NGUỒN ÁN LỆ VỀ VIỆC KHIẾU KIỆN QUYẾT ĐỊNH HÀNH CHÍNH VỀ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI THUỘC TRƯỜNG HỢP BỒI THƯỜNG HỖ TRỢ THIỆT HẠI VÀ TÁI ĐỊNH CƯ (QUYẾT ĐỊNH GIÁM ĐỐC THẨM SỐ 48/2024/HC-GĐT NGÀY 03/4/2024 CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO)

Quyết định giám đốc thẩm số 48/2024/HC-GĐT ngày 03/4/2024 của Tòa án nhân dân tối cao hủy toàn bộ Bản án hành chính phúc thẩm của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh; giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Nội dung hủy án:

[2.3]. Do vậy, có căn cứ xác định bà S sử dụng phần diện tích 466 m2 đất bị thu hồi để thực hiện Dự án là từ sau năm 1980 nhưng trước ngày 15/10/1993. Việc sử dụng đất của bà S không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại điểm đ khoản 4 Điều 14 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai (sau đây gọi là Nghị định số 84/NĐ-CP), nay được quy định tại khoản 1 Điều 12 Luật Đất đai năm 2013, vì bà S lấn chiếm đất công do UBND xã Long B đăng ký, quản lý. Quá trình sử dụng đất, hộ gia đình bà S có kê khai đăng ký đất đai vào năm 1999, nhưng không có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền.

[2.4]. Do đó, theo quy định tại điểm a khoản 6 Điều 38; khoản 1 Điều 42; điểm b khoản 1 Điều 43 Luật Đất đai năm 2003; điểm d khoản 1 Điều 44 Nghị định số 84/NĐ-CP (nay được quy định tại Điều 82 Luật Đất đai năm 2013) thì hộ gia đình bà S không đủ điều kiện được bồi thường về đất.

[2.5]. Tuy nhiên, ngày 24/8/2015, UBND Thành phố Hồ Chí Minh ban hành Công văn số 5008/UBND-ĐTMT hướng dẫn thực hiện Công văn số 426/UBND-ĐTMT ngày 27/01/2015 của Ủy ban nhân dân Thành phố chấp thuận theo đề nghị của Hội đồng Thẩm định bồi thường thành phố tại Công văn số 710/HĐTĐBT-TTr ngày 13/8/2015, cụ thể thống nhất các trường hợp đất do ủy ban nhân dân cấp xã, tập đoàn, hợp tác xã đăng ký theo Chỉ thị 299/TTg nhưng sau đó người dân tự sử dụng (trừ trường hợp chiếm dụng từ ngày 22/4/2002 trở về sau và trường hợp bị xử lý vi phạm thì không xem xét)…để sử dụng sản xuất nông nghiệp đến thời điểm triển khai công tác bồi thường thì được xem xét hỗ trợ, nhưng mức hỗ trợ cao nhất không quá đơn giá bồi thường, hỗ trợ đất nông nghiệp theo chính sách của dự án. Trường hợp tự chuyển mục đích sử dụng sang đất ở thì căn cứ vào thời điểm chuyển mục đích sử dụng sang đất ở để vận dụng Điều 44, 45 Nghị định số 84/NĐ-CP, tính hỗ trợ theo loại đất đang sử dụng nhưng phải trừ nghĩa vụ tài chính vì đất có nguồn gốc do Nhà nước trực tiếp quản lý… Diện tích hỗ trợ không quá một lần hạn mức (200 m2/hộ)... Đối với phần diện tích còn lại ngoài 200 m2 tính hỗ trợ bằng giá bồi thường đất nông nghiệp quy định tại Phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư được duyệt, không tính hỗ trợ theo đất vườn ao không được công nhận là đất ở hay đất nông nghiệp trong địa giới hành chính phường.

[2.6]. Do hộ gia đình bà S trước đây có phần diện tích 657,8 m2 đất (cùng địa chỉ nêu trên) bị ảnh hưởng trong Dự án đầu tư mở rộng xa lộ Hà Nội theo Quyết định số 876/QĐ-UBND ngày 21/9/2015 của UBND Quận 9 và đã được hưởng hỗ trợ trừ 50% tiền sử dụng đất hạn mức 200 m2 đất ở. Diện tích để hưởng hỗ trợ là không quá một lần hạn mức. Nên đối với phần diện tích 200 m2 đất bị ảnh hưởng để thực hiện Dự án này UBND Quận 9 xác định hộ gia đình bà S được hỗ trợ theo đơn giá 14.600.000 đồng/m2, nhưng phải trừ nghĩa vụ tài chính là 100% tiền sử dụng đất với đơn giá 3.300.000 đồng/m2 (theo Quyết định số 89/2010/QĐ-UBND ngày 22/12/2010 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh) là đúng quy định tại điểm a khoản 5 Điều 8 Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất (được sửa đổi, bổ sung tại khoản 4 Điều 2 Nghị định số 120/2010/NĐ-CP ngày 30/12/2010 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất) nay được quy định tại khoản 2 Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất (sau đây gọi là Nghị định số 45/2014/NĐ-CP).

[2.7]. Đối với yêu cầu của bà S buộc UBND Quận 9 bồi thường 40% đơn giá đất ở đối với phần đất (266 m2) ngoài hạn mức, theo đơn giá đất nông nghiệp xen kẽ trong khu dân cư là không có căn cứ, vì phần đất này có nguồn gốc do hộ bà S lấn chiếm đất công do UBND xã Long B đăng ký. UBND Quận 9 căn cứ mục I Phần V Phương án bồi thường số 06/PABT-HĐBT ngày 13/01/2011 của Hội đồng bồi thường Dự án và Công văn số 1996/UBND-ĐTMT ngày 29/4/2011 của UBND Thành phố Hồ Chí Minh, xác định diện tích 266 m2 đất còn lại là đất nông nghiệp và áp giá bồi thường 375.000 đồng/m2 là đảm bảo quyền lợi của hộ gia đình bà S.

[2.8]. Do đó, ngày 11/3/2016 UBND Quận 9 ban hành Quyết định số 73/QĐ-UBND, hỗ trợ phần diện tích 200 m2 với đơn giá 11.300.000 đồng/m2 (14.600.000 đồng/m2 - 3.300.000 đồng/m2) và hỗ trợ phần diện tích đất 266 m2 (ngoài hạn mức 200 m2) với đơn giá đất nông nghiệp là 375.000 đồng/m2 là đúng quy định, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của hộ gia đình bà S.

[3]. Tòa án cấp sơ thẩm bác một phần yêu cầu khởi kiện của bà S là có căn cứ. Tòa án cấp phúc thẩm xác định phần diện tích đất thu hồi, hộ gia đình bà S có quá trình sử dụng đất công khai, ngay tình, ổn định trước ngày Luật Đất đai năm 1993 có hiệu lực mà không có tranh chấp nên đủ điều kiện để xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trong trường hợp chưa được cấp quyền sử dụng đất mà Nhà nước thu hồi đất thì được xem xét bồi thường; khi bồi thường không phải khấu trừ tiền sử dụng đất theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP và căn cứ khoản 2 Điều 10 Nghị định số 197/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004, khoản 1 Điều 44 Nghị định số 84/2007/NĐ-CP, khoản 1 Điều 21 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Chính phủ, nhận định UBND Quận 9 xác định diện tích 266 m2 là đất nông nghiệp và áp giá bồi thường là 375.000 đồng/m2 là chưa đúng quy định của pháp luật, từ đó, chấp nhận kháng cáo của bà S, sửa Bản án sơ thẩm, hủy một phần Quyết định số 73/QĐ-UBND là không đúng quy định của pháp luật.