Đề xuất Án lệ về chủ thể chịu thuế thu nhập cá nhân trong trường hợp uỷ quyền cho vợ/chồng thực hiện chuyển nhượng bất động sản là tài sản riêng
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ CHỦ THỂ CHỊU THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TRONG TRƯỜNG HỢP UỶ QUYỀN CHO VỢ/CHỒNG THỰC HIỆN CHUYỂN NHƯỢNG BẤT ĐỘNG SẢN LÀ TÀI SẢN RIÊNG
Tình huống pháp lý:
Trong thực tiễn chuyển nhượng bất động sản, việc vợ hoặc chồng là chủ sở hữu riêng ủy quyền cho người còn lại thực hiện giao dịch khá phổ biến nhưng còn có cách hiểu khác nhau về chủ thể phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Một số quan điểm cho rằng người được ủy quyền phải chịu thuế do trực tiếp ký kết và thực hiện thủ tục chuyển nhượng. Quan điểm khác cho rằng nghĩa vụ thuế chỉ thuộc về chủ sở hữu vì người được ủy quyền chỉ nhân danh thực hiện giao dịch, không phát sinh thu nhập. Sự khác biệt này đòi hỏi phát triển án lệ để thống nhất cách xác định chủ thể chịu thuế trong thực tiễn.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[22] Theo nội dung Hợp đồng ủy quyền số 11743100 ngày 11/6/2019, ông T được ủy quyền thay mặt bà V thực hiện nhiều nội dung công việc được ủy quyền, trong đó có nội dung: “ông T được quyền thay mặt và nhân danh bà V khai và nộp thuế liên quan đến các hành vi được ủy quyền”. Như vậy, hành vi ông T khai và nộp thuế thu nhập cá nhân cũng thực hiện thay mặt và nhân danh cho chủ sở hữu căn hộ số T2- A40.01 là bà Phùng Thị V. Do bà Phùng Thị V là đối tượng được miễn thuế Thu nhập cá nhân theo quy định tại Điều 4 của Luật Thuế thu nhập cá nhân; Điều 4 của Nghị định số 65/2013/NĐ-CP ngày 27/6/2013 nên ông Nguyễn Minh T không phải thực hiện hành vi được ủy quyền về việc nộp thuế thu nhập cá nhân thay cho bà V.
[23] Hợp đồng ủy quyền chứng thực số 11743100 ngày 11/6/2019 giữa bà Phùng Thị V với ông Nguyễn Minh T không làm thay đổi quyền sở hữu tài sản từ bà Phùng Thị V cho ông Nguyễn Minh T. Việc ông T định đoạt tài sản (chuyển nhượng căn hộ số T2-A40.01) là nhân danh bà V để định đoạt tài sản theo sự ủy quyền hợp pháp của bà V; mọi giá trị chuyển nhượng tài sản (số tiền bán căn hộ trị giá 25.000.000.000 đồng) vẫn thuộc sở hữu của bà V, hoàn toàn không có việc chuyển dịch quyền sở hữu tài sản từ bà V sang cho ông T đối với giá trị căn hộ số T2-A40.01.
[24] Xét theo chứng cứ và Bản tự khai ngày 16/01/2020 của người đại diện hợp pháp cho Chi cục thuế Quận H cung cấp thì không có bất cứ chứng cứ nào thể hiện Hợp đồng ủy quyền chứng thực số 11743100 ngày 11/6/2019 giữa bà Phùng Thị V với ông Nguyễn Minh T là giao dịch giả tạo nhằm che giấu một quan hệ pháp lý khác về giao dịch chuyển nhượng tài sản (căn hộ số T2-A40.01) từ bà Phùng Thị V sang cho ông Nguyễn Minh T để nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế (Thuế thu nhập cá nhân).
[25] Thực tế, ông T không phải là người chủ sở hữu tài sản, không có quyền chuyển nhượng bất động sản hoặc có quyền như người sở hữu bất động sản theo quy định của pháp luật. Tính đến thời điểm ông T nộp thuế (ngày 01/11/2019), Chi cục thuế Quận H không có chứng cứ chứng minh thực tế ông Nguyễn Minh T là chủ sở hữu tài sản đối với căn hộ số T2-A40.01.
[26] Hợp đồng mua bán căn hộ chung cư công chứng số 0087476 ngày 11/9/2019 tại Văn phòng công chứng Nguyễn Quốc Cường thể hiện bà Phùng Thị V là chủ sở hữu căn hộ (bên chuyển nhượng) đã chuyển nhượng cho bên mua là bà Hà Thị Thanh T. Ông Nguyễn Minh T chỉ là người thay mặt và nhân danh bà V thực hiện hành vi được ủy quyền hợp pháp.
[27] Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc Chi cục thuế Quận H áp dụng theo hướng dẫn tại điểm b khoản 3 Điều 1, khoản 5 Điều 2 của Thông tư số 111/2013/TT/BTC ngày 15/8/2013 của Bộ Tài chính để tính và thu thuế thu nhập cá nhân đối với ông Nguyễn Minh T là không phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ việc, nên việc thu thuế đối với ông T là không có cơ sở.
[28] Từ những nhận định trên đây, bà V là chủ sở hữu tài sản chuyển nhượng, là người phải nộp thuế nhưng đã được miễn thuế theo luật định, thì ông T (người đại diện theo ủy quyền cho chủ sở hữu) cũng không phải nộp thuế thu nhập cá nhân với số tiền là 500.000.000 đồng.”