Bản án dân sự phúc thẩm số 02/2023/KDTM-PT ngày 08/9/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Kon Tum về tranh chấp hợp đồng mua bán vật tư
Nội dung sửa án:
(i) Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty cổ phần Chiến T HĐXX xét thấy: Giữa Công ty cổ phần Chiến T và công ty Thiện Long Nha T đều thừa nhận hai bên ký kết với nhau hợp đồng số 0504/2019/HĐMB-CT-TLNT ngày 16/4/2019 về việc “Cung cấp bê tông thương phẩm và vật tư, vật liệu xây dựng” (Sau đây viết tắt: Hợp đồng cung cấp vật tư /Hợp đồng 0504) và hợp đồng số 2707/2019/HĐMB-VGL-TL ngày 27/7/2019 về việc “Cung cấp vật liệu cho công trình Vincom”. Hai bên không tranh chấp Hợp đồng số 2707, mà chỉ tranh chấp hợp đồng 0504 thể hiện trong các văn bản ý kiến của các bên và tại biên bản phiên tòa ngày 07/4/2023. Do đó, HĐXX xem xét tính hợp pháp của hợp đồng số 0504 là hợp đồng phát sinh tranh chấp của các bên.
(ii) Để chứng minh cho yêu cầu khởi kiện Công ty Chiến T giải thích bên công ty không tách giá trị hai hợp mà tính chung giá trị 02 hợp đồng 2707 và hợp đồng số 0504 tổng giá trị là 11.876.023.499 đồng, về phía công ty Thiện Long Nha T cho rằng công ty đã trả tổng số tiền 11.402.267.500 đồng cho giá trị của cả hai hợp đồng nêu trên, số tiền còn nợ lại theo biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/4/2021 là 503.755.999 đồng (Bút lục số 1557, 1558), công ty Thiện L không đồng ý số tiền nợ này với lý do, giá trị hợp đồng số 0504 số tiền là 10.212.092.500 đồng, Thiện L đã thanh toán cho Chiến T 10.477.000.000 đồng (Bút lục số 2730), thanh toán vượt (dư) số tiền là 264.907.500 đồng thể hiện qua 22 lần chuyển khoản và số tiền 503.755.999 đồng là tiền chênh lệch giá bê tông thương phẩm do bên Chiến T tự tăng giá không thông báo cho bên Thiện L, không tuân thủ theo Điều 1 và Điều 7 của Hợp đồng:“Trong quá trình thực hiện hợp đồng nếu có những biến động về giá nguyên vật liệu,…và bê tông thương phẩm sẽ được hai bên thoả thuận điều chỉnh bằng văn bản hoặc phụ lục bằng hợp đồng”. Về nội dung này công ty Chiến T cho rằng ngày 22/5/2019 công ty Chiến Thắng đã gửi công văn số 19/CV-VGLK ngày 22/05/2019 (Sau đây viết tắt là Công văn số 19), trong đó có nội dung công ty cổ phần Chiến T tăng bản giá một số chủng loại trong đó có giá bê tông thương phẩm áp dụng từ ngày 02/5/2019 qua Email: bch.thienlong.kontum@gmail.com (Bút lục số 1555). Công ty Thiện Long Nha T khẳng định công ty chưa nhận được Công văn số 19, Email: bch.thienlong.kontum@gmail.com công ty không sử dụng mà chỉ sử dụng Email: kttvthienlong@gmail.com thể hiện qua 01 vi bằng đã cung cấp cho tòa án.
(iii) Căn cứ tài liệu có trong Hồ sơ vụ án HĐXX thấy rằng, tại các biên bản đối chiếu công nợ đối với hợp đồng số 0504 giữa công ty Chiến T và công ty Thiện Long Nha T có xác nhận của giám đốc hai bên về số tiền thanh toán và số tiền nợ vào các ngày như sau: Ngày 31/5/2019 (Bút lục số 1453) ngày 30/6/2019 (Bút lục số 1454); ngày 31/7/2019 (Bút lục số 1446); ngày 31/8/2019 (Bút lục số 1439); ngày 30/9/2019 (Bút lục số 1449); ngày 31/10/2019 (Bút lục số 1443); ngày 30/11/2019 (Bút lục số 1440); ngày 31/12/2019 (Bút lục số 1557) xác nhận nợ số tiền 1.353.756.000 đồng, ngày 31/12/2019 Công ty Thiện Long Nha t tiếp tục chuyển trả nợ cho công ty Chiến T số tiền 800.000.000đ, tại biên bản đối chiếu công nợ ngày 30/4/2021 (Bút lục số 1558) hai bên chốt số tiền nợ còn lại của hợp đồng 0504 là 503.755.999 đồng. Đồng thời, căn cứ vào các tài liệu do chính công ty Thiện Long Nha T cung cấp có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Công ty Thiện Long Nha T là người lập chi tiết công nợ phải trả (Đợt 1), tính từ ngày 01/5/2019 -15/5/2019 (Bút lục số 1230) áp dụng giá theo hợp đồng 0504 thời điểm này chưa nhận được công văn số 19. Sau khi Công ty Chiến T gửi công văn số 19 ngày 22/5/2019, ngày 16/5/2019 - 31/5/2019 Chi tiết công nợ phải trả (Đợt 2) (Bút lục số 1228), tại phần ghi chú của bản chi tiết có ghi “ Giá tăng có công văn kèm theo” và kể từ ngày 01/6/2019 đến ngày 31/12/2019 công ty Thiện L đều tính giá mới theo như đơn giá ghi trong công văn số 19 bao gồm: Tháng 6 (Bút lục số 1120-1122) ; tháng 7 (Bút lục số 843- 846; 1254-1256; tháng 8 (Bút lục số 400, 530-532); tháng 9 (Bút lục số 363-365); tháng 10 (Bút lục số 286-287); tháng 11 (Bút luc số 203-207); tháng 12(Bút lục số 31-32). Tất cả các biên bản này đều được bên công ty Thiện L tính theo giá của công văn số 19 và lập từng tháng, có chữ ký của nhân viên và kế toán công ty Thiện Long Nha T.
Tại cấp sơ thẩm bị đơn cho rằng khi thi công công trình Vincom Kon Tum không thành lập Ban chỉ huy công trường và ông Nguyễn Văn C không được công ty Thiện Long Nha T bổ nhiệm là Chỉ huy trưởng công trường Vincom Kon Tum (Bút lục số 2872). Tuy nhiên, căn cứ vào các tài liệu cấp phúc thẩm đã thu thập tại công ty cổ phần Vincom Retail xác định được: Công trình Vincom Kon Tum có thành lập Ban chỉ huy công trường và ông Nguyễn Văn C được công ty Thiện Long Nha Trang bổ nhiệm là Chỉ huy trưởng công trình Vincom Kon Tum(Bút lục số 3036-3037) nên HĐXX thấy rằng, cần xem xét đến lời khai và các tài liệu do ông C ký có tại hồ sơ vụ án.
(iv) Tại điểm 2.1 Điều 2 của hợp đồng 0504 quy định “…giá trị cuối cùng của hợp đồng hay giá trị hàng hóa mua bán được xác định chính thức dựa trên khối lượng bê tông thương phẩm được hai bên ký xác nhận trong các bên bản giao nhận hàng hóa..” căn cứ các biên bản giao nhận hàng hóa do ông Nguyễn Văn C là Chỉ huy trưởng và anh Trịnh Thái D là nhân viên kỹ thuật của Ban chỉ huy công trường xây dựng Trung tâm thương mại Vincom Kon Tum ký xác nhận đúng khối lượng hàng hóa yêu cầu, các bên không ai có ý kiến gì. Theo mục 2.3 Điều 2 quy định về phương thức thanh toán “Vào ngày 15 và ngày cuối mỗi tháng, căn cứ nội dung phiếu giao hàng của bên mua tại công trường, bên bán tổng hợp khối lượng và xuất hóa đơn GTGT, …gửi cho bên mua”, các hóa đơn Giá trị gia tăng gồm 27 hóa đơn do Chiến T xuất vào ngày 15 và ngày cuối mỗi tháng đã gửi cho Thiện L đều tính theo giá của công văn số 19. Để xem xét tính hợp pháp của các hóa đơn Giá trị gia tăng này cấp phúc thẩm đã tiến hành thu thập các tài liệu chứng cứ liên quan đến việc công ty Thiện Long Nha T đã quyết toán thuế đối với 27 hóa đơn này chưa và đã nhận được kết quả tại công văn số 6139/CTKHH-TTKT2 ngày 16/8/2023 Cục thuế Nha Trang đã trả lời “Công ty TNHH Thiện Long Nha Tr đã kê khai khấu trừ thuế giá trị gia tăng đầu vào từ tháng 5/2019 đến tháng 11/2019 và đã kê khai quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2019 đối với chi phí của 27 hóa đơn giá trị gia tăng…”(Bút lục số 3034), hơn nữa hợp đồng 0504 cũng không bắt buộc bên Chiến T phải gửi thông báo thay đổi giá qua địa chỉ Email. kttvthienlong@gmail.com, trong khi bên Thiện L đã biết và tính toán giá tăng từ 16 tháng 5 năm 2019 đến khi thực hiện xong hợp đồng 31/12/2019 nên việc Công ty Thiện L cho rằng công ty không nhận được công văn số 19 và không biết việc công ty Chiến T nâng giá bê tông là không đúng.
Đồng thời, tại phiên tòa hôm nay ông C khẳng định Công ty Thiện Long Nha Tr đã nhận được và đồng ý với đơn giá thay đổi theo Công văn số 19 của công ty Chiến T vì: Tại thời điểm công ty Chiến Thắng gửi cho Công ty Thiện Long Nha T Công văn số 19 cũng đã gửi cho ông 01 bản để biết về đơn giá và khối lượng vật liệu mà bên công ty Chiến T đã cung cấp và khi giao nhận khối lượng hàng hóa với công ty Chiến T ông C cũng thường xuyên thông báo khối lượng và đơn giá có sự thay đổi cho công ty Thiện Long Nha T vì đây là nhiệm vụ của Chỉ huy trưởng công trường.
Từ những phân tích nêu trên HĐXX thấy rằng mặc dù giữa nguyên đơn và bị đơn chưa lập văn bản về thống nhất giá, tuy nhiên trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng bên Công ty Thiện Long Nha T đã biết và tính toán đối chiếu công nợ theo như giá ghi tại Công văn số 19 là mặc nhiên thừa nhận, hai bên đã thực hiện xong hợp đồng là nguyên tắc áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại theo quy định tại khoản 3 Điều 3 và Điều 12 Luật thương mại không trái quy định của pháp luật, Vì vậy, việc nguyên đơn khởi kiện bị đơn trả số tiền nợ gốc 503.755.999 đồng và lãi suất chậm trả trên khoản nợ gốc tính từ ngày 16/9/2020 đến ngày 08/9/2023 là 180.150.239 đồng. Tổng số tiền 683.906.238 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS là có cơ sở chấp nhận.
(v) Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn công ty Thiện Long Nha T với nội dung: Yêu cầu Công ty Chiến T trả lại số tiền 264.907.500 đồng là số tiền thanh toán dư của Hợp đồng cung cấp vật tư 0504 Hội đồng xét xử xét thấy, như đã phân tích tại mục [2], toàn bộ số tiền 264.907.500 đồng là số tiền Công ty Thiện Long Nha T phải trả cho công ty Chiến T theo hợp đồng 0504. Do đó, việc cấp sơ thẩm chấp nhận đơn yêu cầu phản tố của bị đơn là không đúng quy định của pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
(vi) Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đánh giá chứng cứ chưa khách quan toàn diện dẫn đến giải quyết vụ án không đúng quy định của pháp luật làm ảnh hưởng đến quyền lợi của nguyên đơn. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn Công ty cổ phần Chiến T, sửa toàn bộ Bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 04/2023/KDTM-ST ngày 08/5/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum với nội dung: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty Cổ phần Chiến T. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty Thiện Long Nha T.