Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thủy tinh) giữa Công ty thủy tinh Zhejiang với Công ty chế biến thủy tinh M&A xét xử tại Tòa án nhân dân trung cấp Ninh Ba

Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa giữa Công ty thủy tinh Zhejiang với Công ty chế biến thủy tinh M&A xét xử tại Tòa án nhân dân trung cấp Ninh Ba

1. Các bên tranh chấp

Nguyên đơn là bên bán: Công ty thủy tinh Zhejiang, Trung Quốc 

Bị đơn là bên mua: Công ty chế biến thủy tinh M&A, Ai Cập

Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án nhân dân trung cấp Ninh Ba.

2. Diễn biến tranh chấp

Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế giữa hai bên được đưa ra Tòa vào ngày ngày 14 tháng 7 năm 2009 và sau khi được thụ lý vào ngày 20 tháng 7 năm 2009, hội đồng thẩm phán xét xử vào ngày 20 tháng 7 năm 2011.

Bên bán tuyên bố rằng từ tháng 10 năm 2007 đến tháng 2 năm 2008, họ đã ký 5 hợp đồng mua bán hàng hóa với bên mua, đồng ý cung cấp thủy tinh cho bên mua với:

- Tổng số tiền là 506.434,46 USD với điều khoản FOB; 

- Cảng vận chuyển: Ninh Ba, Trung Quốc; Cảng đích: Cảng Alexandria; 

- Điều khoản thanh toán: người mua sẽ thực hiện một khoản thanh toán đầy đủ trong vòng 60 ngày kể từ ngày vận chuyển trên vận đơn; 

- Bảo hiểm: do người mua thanh toán; 

- Thời hạn bốc xếp: 30 đến 35 ngày sau khi hợp đồng được ký kết. 

Sau khi ký hợp đồng, bên bán đã vận chuyển 223.630,77 mét vuông thủy tinh từ cảng Ninh Ba và gửi vận đơn cho bên mua theo thỏa thuận. Song bên mua chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán. Do đó, bên bán khởi kiện yêu cầu bên mua trả số tiền hàng là 506.434,46 USD và tiền lãi quá hạn là 343.567 Nhân dân tệ. Trong quá trình tố tụng, bên bán đã giảm lãi quá hạn xuống 49.377,34 USD (từ ngày 17 tháng 5 năm 2008 đến ngày 16 tháng 5 năm 2011; sau thời gian đó, các thiệt hại sẽ được tính ở mức lãi suất hàng năm là 3,25% đối với tiền gửi USD hai năm).

Bên mua không có mặt và không gửi câu trả lời cho các khiếu kiện hoặc cung cấp bất kỳ bằng chứng nào.

Bên bán đã gửi bằng chứng sau đây để làm căn cứ cho yêu cầu của mình:  

- Bản sao của 5 bản Hợp đồng mua bán hàng hóa; 8 bản danh sách giao hàng; 6 hóa đơn; 6 bản danh sách đóng gói; 6 tờ khai hải quan; 6 vận đơn; và 6 hóa đơn Yuantong Express để cho thấy tính hợp lệ và sự tồn tại của các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa hai bên. Bên bán đã chuyển hàng và gửi vận đơn cho bên mua.

- 2 bản sao các hóa đơn xác minh và xóa sổ tiền xuất khẩu bằng ngoại hối của China Everbright Bank và 4 hóa đơn liên quan để thể hiện năng lực pháp lý của bên mua.

- 1 bản sao lời khai của chi nhánh Ninh Ba của Công ty TNHH Taiping Shipping (Trung Quốc); 4 bản vận đơn được đóng dấu bởi văn phòng Ninh Ba của Công ty TNHH Evergreen Marine (Hồng Kông), thể hiện rằng hàng hóa được quy định bởi vận đơn đã đến Cảng đích.

- 1 bản sao thư trả lời của bộ phận dịch vụ của Yuantong Express hiển thị vận đơn do bên bán gửi cho bên mua đã đến nơi.

- 1 bản sao thư yêu cầu hiển thị việc nhận hàng của bên mua.

Sự vắng mặt của bên mua được coi là sự từ bỏ quyền kiểm tra bằng chứng do bên bán cung cấp và quyền bác bỏ cáo buộc. Tòa án cho rằng các bằng chứng được cung cấp là một chuỗi bằng chứng đủ sức thuyết phục để khẳng định sự tồn tại của hợp đồng mua bán giữa hai bên và việc thực hiện nghĩa vụ giao hàng của người bán. Không có sự phản đối của người mua, Tòa án chấp nhận người bán đã đáp ứng tiêu chuẩn cao về bằng chứng cho vụ kiện dân sự. Theo các bằng chứng và lời khai do người mua cung cấp, Tòa án này tìm thấy các sự kiện như sau:

- Có một số giao dịch giữa hai bên. Người mua đã chuyển 87.801,63 USD và 68.131,14 USD vào ngày 14 và 29 tháng 9 năm 2006. Hai bên đã ký hợp đồng với người mua, mua 57.868,99 mét vuông, 57.871,88 mét vuông, 13.321,08 mét vuông, 58.560,29 mét vuông và 35.998,53 mét vuông kính từ người bán vào ngày 19 tháng 10, ngày 1 tháng 11, ngày 20 tháng 11, ngày 19 tháng 12 năm 2007 và ngày 18 tháng 2 năm 2008, ở mức giá 107.057,64 USD, 136.080,48 USD, 35.300,86 USD, 127.891,77 USD, 100.103,71 USD, tổng cộng là 506.434,46 USD. Tất cả năm thỏa thuận với điều khoản FOB, cảng giao hàng Ninh Ba, cảng đích Alexandria, điều khoản thanh toán: người mua sẽ thanh toán đầy đủ trong vòng 60 ngày kể từ ngày vận chuyển trên vận đơn; thời hạn bốc xếp: 30 đến 35 ngày sau khi hợp đồng được ký kết. Sau khi ký hợp đồng, Người bán đã bàn giao hàng hóa cho người vận chuyển thành 6 đợt tại Cảng Ninh Ba và người vận chuyển đã ký sáu bản vận đơn quy định người mua là bên nhận hàng và thông báo. Số vận đơn là EGLV859793180237, EGLV859793181390, EGLV859793182621, EGLV859793183015, NBALY8180923 và NBALY8180678 vào ngày 20 tháng 11, ngày 4 tháng 12, ngày 18 tháng 12, ngày 26 tháng 12 năm 2007, ngày 24 tháng 1 và ngày 16 tháng 3 năm 2008 tương ứng. Người bán đã gửi vận đơn cho người mua và hoàn tất quy trình khai báo hải quan cho các lô hàng trên.

3. Phán quyết của Tòa án

Tòa án cho rằng Tòa có thẩm quyền giải quyết tranh chấp vì người mua là một công ty nước ngoài, làm phát sinh tranh chấp thương mại có yếu tố nước ngoài mà các phần quy định có yếu tố nước ngoài của Luật Tố tụng Dân sự (PRC) áp dụng và các hợp đồng được thực hiện tại Ninh Ba. CISG sẽ được áp dụng vì địa điểm kinh doanh của hai bên là ở các quốc gia khác nhau, hai nước đều là thành viên của CISG trước khi hợp đồng được ký và không bên nào loại trừ khả năng áp dụng CISG. Hợp đồng mua bán hàng hóa có giá trị ràng buộc đối với cả hai bên, theo đó người mua phải trả số tiền quy định tại thời điểm quy định và lãi quá hạn sẽ được áp dụng trong trường hợp chậm thanh toán. Yêu cầu của người bán là chính đáng và được Tòa án cho phép với tiền mua hàng và lãi quá hạn được tính theo lãi suất tiền gửi USD kể từ ngày quy định của hợp đồng cuối cùng cho đến ngày ra quyết định của Tòa.

Theo các Điều 53, 59 và 78 của CISG và mục 130 của Luật Tố tụng dân sự (PRC), Tòa quyết định:

- Người mua sẽ trả cho người bán số tiền 506.434,46 USD và tiền lãi quá hạn với số tiền 49.377,34 USD (từ ngày 17 tháng 5 năm 2008 đến ngày 16 tháng 5 năm 2011; sau khoảng thời gian đó cho đến ngày thực hiện, các thiệt hại sẽ được tính vào lãi suất hàng năm 3,25% đối với tiền gửi bằng USD) và điều này phải được thực hiện trong vòng mười ngày sau khi quyết định có hiệu lực.

- Nếu nghĩa vụ thanh toán không được thực hiện trong thời hạn theo quyết định này, lãi suất của khoản nợ sẽ phát sinh trong thời gian chậm trả theo điều 229 của Luật Tố tụng dân sự (PRC).

- Các khoản phí kiện tụng 37.184 Nhân dân tệ sẽ do Người mua trả.

*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 53, 59 và 78 CISG.

“Ðiều 53

Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này.”

“Ðiều 59

Người mua phải trả tiền vào ngày thanh toán đã quy định hoặc có thể được xác định theo hợp đồng và Công ước này, mà không cần có một lời yêu cầu hay việc thực hiện một thủ tục nào khác về phía người bán.”

“Ðiều 78

Nếu một bên chậm thanh toán tiền hàng hay mọi khoản tiền thiếu khác, bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó mà không ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại mà họ có quyền đòi hỏi chiếu theo Điều 74.”