Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thực phẩm) giữa công ty D & G Group, SRI (Ý) với công ty H. A. IMPORT USA et al., (Hoa Kỳ) xét xử tại Tòa sơ thẩm liên bang Hoa Kỳ, Quận phía Nam của Hoa Kỳ (tòa án sơ thẩm liên bang)
Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thực phẩm) giữa công ty D & G Group, SRI (Ý) với công ty H. A. IMPORT USA et al., (Hoa Kỳ) xét xử tại Tòa sơ thẩm liên bang Hoa Kỳ, Quận phía Nam của Hoa Kỳ (tòa án sơ thẩm liên bang)
1. Các bên tranh chấp
Nguyên đơn (bên bán): D & G GROUP, S.R.I., (Ý);
Bị đơn (bên mua): H. A. IMPORT USA et al., (Hoa Kỳ);
Cơ quan giải quyết tranh chấp/ngày phán quyết: Tòa sơ thẩm liên bang Hoa Kỳ, Quận phía Nam của Hoa Kỳ (tòa án sơ thẩm liên bang) ngày 18/02/2015.
2. Diễn biến tranh chấp
Bên bán (D & G Group, SRI, nước Ý) có trụ sở kinh doanh chính tại Ý. Bên mua (HA Import, USA, Inc., nước Hoa Kỳ) có trụ sở kinh doanh chính tại California. Bị đơn Morello là cư dân của bang New York. Từ tháng 11 năm 2012 đến tháng 4 năm 2013, Bên mua và Bị đơn Morello (sau đây gọi là Bên mua) đã đặt hàng các sản phẩm thực phẩm từ Bên bán để được vận chuyển từ Ý đến Thành phố New York. Bên mua đồng ý trả cho Bên bán giá trị của hàng hóa, "trị giá hơn 86.000 đô la Mỹ". Bị đơn Morello ký hợp đồng với tư cách cá nhân với Bên bán và "không bao giờ khẳng định rằng anh ta chỉ đơn thuần ký hợp đồng với tư cách là một nhân viên của Công ty HA Import USA, Inc”.
Tháng 8/2012, bị đơn Morello đã thanh toán một phần tiền hàng hóa bằng séc cá nhân với số tiền 10.000 đô la Mỹ. Tháng 01/2014, Bên bán đã gửi thư cho Bên mua yêu cầu thanh toán số dư chưa thanh toán là 96.521,29 đô la Mỹ. Bên mua đã từ chối thanh toán số dư nợ gốc và không đề nghị trả lại hàng hóa. Bên bán khởi kiện bên mua vi phạm hợp đồng theo Điều 74 của CISG và theo Luật New York. Bên mua đề nghị bồi thường 96.521,29 đô la Mỹ và tiền lãi.
Bị đơn Morello bác đơn kiện với lập luận Tòa án không đủ thẩm quyền xét xử vụ kiện, đồng thời, cho rằng số tiền phải trả ít hơn 75.000 đô la Mỹ.
3. Phân tích và quyết định của Tòa sơ thẩm liên bang Hoa Kỳ
Hoa Kỳ và Ý là hai quốc gia thành viên của CISG và có trụ sở kinh doanh tại hai nước khác nhau nên Toà án áp dụng Công ước CISG để giải quyết tranh chấp.
Bị đơn dựa theo Điều 12 (b) (1) Quy tắc tố tụng dân sự liên bang để rút khỏi vụ kiện vì chưa đủ thẩm quyền xét xử vấn đề. Khi quyết định yêu cầu rút khỏi vụ kiện theo Quy tắc 12 (b) (1), tòa án sẽ chấp nhận các cáo buộc thực tế trong đơn kiện là đúng và đưa ra mọi suy luận hợp lý có lợi cho bên bán.
Theo kiến nghị của bị đơn, một căn cứ xác định thẩm quyền tài phán liên bang là các bên có quốc tịch khác nhau và số tiền tranh chấp phải vượt quá 75.000 đô la Mỹ theo Điều 1332 mục 28 Bộ luật Hoa Kỳ. Tòa án liên bang cũng có thẩm quyền xét xử đối với các vấn đề liên quan đến điều ước quốc tế. Điều 1331 mục 28 Bộ luật Hoa Kỳ trao cho Tòa án liên bang có thẩm quyền đối với tất cả các vụ kiện dân sự phát sinh theo các điều ước quốc tế mà Hoa Kỳ tham gia. Theo đó, Công ước viên CISG là một điều ước quốc tế đa phương giữa một số quốc gia có chủ quyền, bao gồm Hoa Kỳ và Cộng hòa Ý. CISG quy định quyền khởi kiện có hiệu lực tại tòa án liên bang.
Ngoài ra, Điều 74 CISG quy định về bồi thường thiệt hại khi có sự vi phạm hợp đồng liên quan đến việc bán hàng hóa. Có hai loại thiệt hại được bồi thường, cụ thể:
- Tổn thất mà bên bị vi phạm đã gánh chịu. Thiệt hại xảy ra trong thực tế do vi phạm hợp đồng thường sẽ là: những tài sản bị mất mát hoặc bị hủy hoại hoàn toàn, những hư hỏng, giảm sút về tài sản, chi phí mà bên bị vi phạm trong hợp đồng phải bỏ ra để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục những hậu quả do bên vi phạm hợp đồng gây ra.
- Khoản lợi bị bỏ lỡ như thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút đối với bên bị vi phạm, là hậu quả của sự vi phạm hợp đồng.
Mục 28, phần IV, chương 85 Bộ luật Hoa Kỳ, điều 1369 (28 U.S.C. 1367) trao cho các tòa án liên bang "quyền tài phán bổ sung" đối với các khiếu kiện pháp luật của từng bang tạo nên 1 vụ kiện hoặc tranh chấp tương tự như các khiếu kiện mà tòa án liên bang có thẩm quyền khác. Theo Điều 1367 mục 28 U.S.C, khiếu nại sẽ tạo thành một phần tương tự vụ kiện hoặc tranh chấp nếu chúng cùng xuất phát từ tình tiết chính trong thực tế.
Tòa án bác bỏ kiến nghị rút đơn của bị đơn Morello vì nguyên đơn đã đưa ra hai căn cứ chứng minh thẩm quyền xét xử của tòa án liên bang trong vụ kiện này:
- Nguyên đơn đã viện dẫn chính xác thẩm quyền công dân của tòa án này; Tòa án đã chấp nhận lập luận trong đơn kiện rằng các bên trong vụ kiện này là công dân của Cộng hòa Ý (nguyên đơn), Bang California (bị đơn HA Import, USA, Inc.) và Bang New York (bị đơn Morello). Vì vậy, có sự khác biệt về quốc tịch của các bên. Hơn nữa, khiếu nại cáo buộc một số tiền trong tranh chấp là 96.521,29 đô la Mỹ.
- Nguyên đơn đưa ra hành vi vi phạm các yêu cầu hợp đồng theo cả Công ước CISG và theo luật pháp tiểu bang. Bởi vì các tòa án liên bang có thẩm quyền đối với tất cả các vụ kiện dân sự phát sinh theo các điều ước quốc tế của Hoa Kỳ theo Điều 1331 mục 28 Bộ luật Hoa Kỳ. Nguyên đơn cũng khẳng định yêu cầu hợp lệ theo luật hợp đồng nhà nước. Tòa án có thẩm quyền bổ sung theo quy định pháp luật của tiểu bang vì có chung tình tiết chính kiện theo công ước. Do đó, ngay cả khi thẩm quyền xét xử hỗn hợp còn thiếu như bị đơn lập luận, tòa án có thẩm quyền xét xử đối với vụ án nhờ vào yêu cầu của công ước và thẩm quyền bổ sung đối với yêu cầu của luật pháp tiểu bang.
Bị đơn Morello chuyển sang bác bỏ hành động này với lý lẽ nguyên đơn "đã thổi phồng hóa đơn để họ có thể khởi kiện ra tòa án liên bang". Bị đơn cũng lập luận rằng số tiền tranh cãi nên giảm 14.000 đô la Mỹ, đề cập đến khoản thanh toán mà ông đã trả. Lý lẽ "thổi phồng hóa đơn" liên quan đến 14.000 đô la Mỹ. Hơn nữa, ngay cả khi tòa án áp dụng khoản khấu trừ 14.000 đô la này, số tiền trong tranh cãi vẫn sẽ là 82.521,29 đô la Mỹ, vượt quá phạm vi số tiền thuộc thẩm quyền xét xử hỗn hợp. Do đó, nguyên đơn đã yêu cầu đầy đủ quyền tài phán đa dạng của tòa án này theo Điều 1332 mục 28 Bộ luật Hoa Kỳ.
Vì những lý do nêu trên, Tòa án sơ thẩm liên bang từ chối hành động bác bỏ của bị cáo.
*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên Điều 74 CISG.
“Ðiều 74
Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết.”