Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thiết bị điện tử) giữa doanh nghiệp Pháp với doanh nghiệp Thụy Sĩ xét xử tại Tòa án quận Zug, Thụy Sĩ
Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thiết bị điện tử) giữa doanh nghiệp Pháp với doanh nghiệp Thụy Sĩ xét xử tại Tòa án quận Zug, Thụy Sĩ
1. Các bên tranh chấp
Nguyên đơn: Bên bán là doanh nghiệp Pháp.
Bị đơn: Bên mua là doanh nghiệp Thụy Sĩ.
Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án quận Zug, Thụy Sĩ.
2. Diễn biến tranh chấp
Tranh chấp diễn ra xung quanh hợp đồng mua bán thiết bị điện tử giữa một doanh nghiệp Pháp (bên bán) và một doanh nghiệp Thụy Sĩ (bên mua) có trụ sở tại Zug. Theo đó, bên bán khởi kiện bên mua và yêu cầu thanh toán khoản tiền hàng đối với 5.000 tấm bản mạch điện tử GSM (GSM module) và một số linh kiện khác. Về phía mình, bên mua cáo buộc các bản mạch điện tử bị khiếm khuyết, cụ thể là tạo ra các tiếng vọng và âm thanh không điều chỉnh được.
|
Khiếu kiện của bên bán (nguyên đơn) |
|
|
Yêu cầu của bên mua (bị đơn) |
|
Theo đó, ngày 30/8/2004, bên mua đã gửi email đặt mua 7.000 bản mạch điện tử GSM “MO110d” từ bên bán với giá 41 euro/bản mạch, trong đó: 2.000 bản mạch được giao ngày 3/9/2004, và 5.000 bản mạch còn lại được giao ngày 17/9/2004. Theo đệ trình mô tả của bên bán, các bản mạch này là các thẻ điện tử chứa đựng các cấu phần và ứng dụng phần mềm được sử dụng trong các thiết bị để truyền và nhận dữ liệu thông qua mạng wi-fi.
Ngày 15/9/2004, bên mua liên lạc lại với bên bán để đặt mua thêm 4.000 thiết bị “Pin Female MO110d” với giá 0,8 euro/sản phẩm. Ngoài ra, 2.000 bản mạch đã được giao trực tiếp cho công ty con của bên mua tại Thụy Sĩ, và 5.000 bản mạch còn lại được giao qua đường hàng không cho Công ty Mobiltech tại Hồng - Kông (Trung Quốc) ngày 25/9/2004 theo yêu cầu của bên mua.
Tại bức thư ngày 22/9/2004, bên bán gửi hóa đơn cho bên mua, với tổng trị giá là 208.200 euro (Trong đó có 205.000 euro đối với lô hàng 5.000 bản mạch đã giao tại Hồng - Kông (Trung Quốc), và 3.200 euro đối với 4.000 thiết bị “Pin Female MO110d”).
Ngày 28/9/2004, bên bán lại gửi email cho bên mua đề nghị thanh toán 82.000 euro cho lô hàng đã giao đầu tiên, gồm 2.000 bản mạch, trước ngày 30/9/2004. Đáp lại, bên mua thông tin cho bên bán trong cùng ngày rằng mình không thể đáp ứng thời hạn thanh toán này do phải ưu tiên thanh toán cho một số đối tác quan trọng hơn. Tại email tiếp theo ngày 14/10/2004, bên bán tiếp tục nhắc nhở bên mua trả tiền cho lô hàng đầu tiên là 82.000 euro, đặc biệt là thời hạn thanh toán cho lô hàng thứ hai là ngày 22/10/2004.
Đáp lại, ngày 15/10/2004, bên mua thông báo rằng mình chỉ có thể thanh toán cho bên bán ngay sau khi giao xong lô sản phẩm điện thoại di động của mình cho Vodafone, và việc giao hàng này phụ thuộc vào việc bán hỗ trợ lựa chọn phần cứng phù hợp và phần mềm “điều chỉnh âm thanh” do bên bán đề xuất. Trong quá trình trao đổi sau đó, bên bán tiếp tục thúc giục bên mua thanh toán tiền hàng.
Sau đó, các bên đã thảo luận rằng bên mua sẽ thanh toán tất cả các khoản tiền hàng còn thiếu vào ngày 15/02/2005. Bên mua đã không thực hiện đúng cam kết thanh toán này. Bên bán đã gửi yêu cầu cưỡng chế thu hồi 317.331 franc Thụy Sĩ. Đáp lại, bên mua nộp đơn phản đối ngày 6/10/2005. Ngày 10/10/2005, bên mua tiếp tục đưa ra lập luận cho phản đối của mình, với cáo buộc rằng các bản mạch mà bên bán cung cấp không thể sử dụng được (đúng cách) với các ứng dụng phần mềm mới được sản xuất.
Bên bán đã đưa vụ tranh chấp ra Tòa án quận Zug ngày 26/9/2006, với các yêu cầu khởi kiện như đã nêu ở trên. Bên bán yêu cầu thanh toán tiền hàng 203.600 euro, tương đương với 317.331 franc Thụy Sĩ, cũng chính là khoản tiền mà bên mua đã phản đối việc thanh toán tại Văn phòng Thực thi Nợ.
3. Phân tích và phán quyết của Tòa án
3.1. Phân tích của Tòa án
Về luật áp dụng
Các bên có trụ sở kinh doanh tại các Quốc gia Thành viên của Công ước Lugano. Quyền tài phán của Tòa án khởi kiện được xác định chủ yếu theo điều ước quốc tế này. Tuy nhiên, Điều 2 (1) Công ước Lugano chỉ quy định quyền tài phán quốc tế của tòa án Thụy Sĩ. Quyền tài phán của tòa án quận (Kantonsgericht) Zug được thiết lập theo Điều 2 Bộ luật Thụy Sĩ về Xung đột Pháp luật (IPRG).
Do tranh chấp này có yếu tố quốc tế, Cơ quan Liên bang Thụy Sĩ về Xung đột Pháp luật lẽ ra sẽ là cơ quan liên quan nhằm xác định luật thực tế áp dụng để giải quyết tranh chấp này. Tuy nhiên, Điều 1(2) IPRG lại có quy định bảo lưu đối với các điều ước quốc tế. Theo Điều 1(1)(a) Công ước CISG, Công ước này sẽ áp dụng đối với các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở kinh doanh tại các Quốc gia Thành viên của Công ước. Cả Pháp và Thụy Sĩ đều là Quốc gia Thành viên của Công ước CISG, do đó, tranh chấp này phải được xét xử dựa trên Công ước CISG.
Yêu cầu thanh toán tiền hàng
Tranh chấp liên quan đến yêu cầu của bên bán đối với việc thanh toán tiền cho lô hàng 5.000 bản mạch điện tử GSM “MO110d” theo đơn hàng 30/8/2004, với giá 41 euro/bản mạch. Ngoài ra, bên bán còn yêu cầu thanh toán cho lô hàng ngày 15/9/2004 bao gồm 4.000 thiết bị “Pin Female MO110d” với giá 0.8 euro/thiết bị. Bên mua không bình luận gì về việc các đợt giao hàng đã được thực hiện trọn vẹn hay chưa. Tuy nhiên, bên mua đưa ra cáo buộc rằng các bản mạch đã giao bị lỗi. Đặc biệt, các thiết bị này có tiếng vọng và không thể điều chỉnh được âm lượng.
Sự phù hợp của hàng hóa
Theo Điều 35 (1) Công ước CISG, bên bán phải giao hàng với chất lượng, số lượng và mô tả phù hợp với hợp đồng, được đóng container hoặc đóng gói phù hợp với quy định của hợp đồng. Hàng hóa bị coi là không phù hợp nếu thiếu đi các yếu tố đã được các bên thống nhất trong hợp động hoặc - trong trường hợp không có thỏa thuận cụ thể giữa các bên - nếu hàng hóa không phù hợp với các tiêu chuẩn tối thiểu khách quan có liên quan. Hàng hóa phải phù hợp cho tất cả các mục đích mà hàng hóa có cùng mô tả thường được sử dụng bởi một người bình thường (xem thêm Điều 35 (2)(a) Công ước CISG). Hơn nữa, hàng hóa phải phù hợp với tất cả các mục đích cụ thể mà bên bán mô tả một cách rõ ràng hoặc ngụ ý tại thời điểm ký kết hợp đồng, trừ trường hợp bên mua không tin tưởng, hoặc việc bên mua tin tưởng là vô lý, đối với kỹ năng và phán đoán của bên bán (xem Điều 35 (2)(b) Công ước CISG. Hàng hóa cũng phải có những phẩm chất mà bên bán đã cung cấp cho bên mua dưới dạng hàng mẫu hoặc mô hình (Điều 35 (2)(c) Công ước CISG).
Yêu cầu thông báo
Trường hợp bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng, bên mua có thể: a) thực hiện các quyền của mình theo các Điều từ 46-52 Công ước CISG, và (b) yêu cầu bồi thường thiệt hại theo các Điều từ 74-77 Công ước CISG. Để thực hiện được các quyền quy định tại các Điều 46-52 Công ước CISG (vi phạm hợp đồng, giảm giá tiền hàng, v.v...), bên mua phải kiểm tra hàng hóa trong khoảng thời gian ngắn nhất có thể và thông báo cho bên bán bất kỳ sự không phù hợp nào của hàng hóa trong khoảng thời gian hợp lý. Trường hợp không đưa ra thông báo hoặc không chỉ ra được cụ thể bản chất sự không phù hợp của hàng hóa (Điều 39 (1) Công ước CISG), bên mua sẽ bị mất quyền dựa vào sự không phù hợp của hàng hóa. Khi đó, bên mua bắt buộc phải thực hiện mọi nghĩa vụ theo hợp đồng, cụ thể là phải chấp nhận hàng hóa với các khiếm khuyết và phải thanh toán đầy đù tiền hàng như một hệ quả.
Việc xác định các yêu cầu cụ thể đối với một thông báo về sự không phù hợp và việc đánh giá liệu bên mua đã thông báo chính xác sự không phù hợp của hàng hóa do bên bán cung cấp hay chưa được tòa án dựa trên những luận điểm sau đây:
(i) Bản chất sự không phù hợp phải được cụ thể hóa nhằm đặt bên bán vào vị thế hiểu rõ tình trạng không phù hợp của hàng hóa và thực hiện các bước cần thiết để thu thập các bằng chứng cho thủ tục tố tụng trong tương lai liên quan đến sự phù hợp của hàng hóa, đồng thời tạo cơ hội để bên bán giao hàng thay thế hoặc sửa chữa hàng hóa, và cuối cùng là để bên bán đòi bồi thường từ phía nhà vận chuyển. Mặt khác, các tiêu chuẩn yêu cầu về cụ thể hóa tính chất không phù hợp của hàng hóa phải được đưa ra ở mức không quá cao. Tiêu chuẩn này giúp cả bên mua và bên bán khi tham gia giao dịch có thể giải quyết bất kỳ khác biệt nào về văn hóa trong cách hiểu, đặc biệt là, về bản chất của hàng hóa. Một chuyên gia có thể mô tả cụ thể hơn so với một người bình thường về sự không phù hợp của hàng hóa. Theo Công ước CISG, các mô tả chung chung (ví dụ như: “không ổn”, “các thuộc tính không phù hợp”, “giao nhầm hàng”, “chất lượng kém”, “cấu trúc tệ”) cũng như các tuyên bố chung chung về sự không phù hợp (“không phù hợp với kỳ vọng của chúng tôi”) rõ ràng là các thông báo không đầy đủ. Bên mua được kỳ vọng xác định rõ mức độ phụ thuộc của mình vào việc giao hàng không phù hợp, những sai lệch cụ thể về chất lượng, và căn cứ thể hiện việc hàng hóa được giao nhầm (aliud delivery) so với hàng hóa mô tả trong hợp đồng. Trường hợp đã kiểm tra hàng hóa, bên mua sẽ phải thông tin cho bên bán về các kết quả chính. Tuy nhiên, đối với trường hợp hàng hóa là máy móc hoặc thiết bị kỹ thuật, bên mua chỉ cần mô tả các triệu chứng chứ không cần phải đưa ra nguyên nhân tương ứng. Thông báo không yêu cầu bất kỳ thể thức cụ thể nào, do đó thông báo qua điện thoại cũng được coi là phù hợp. Thời hạn đưa ra thông báo được xem xét trong từng trường hợp cụ thể, bao gồm mọi hoạt động thương mại và thực tiễn được thiết lập giữa các bên. Nếu bên mua muốn giữ hàng và chỉ yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc yêu cầu giảm giá tiền hàng, thời hạn đưa ra thông báo có thể lâu hơn so với trường hợp bên mua từ chối nhận hàng. Do có nhiều ý kiến khác nhau liên quan đến vấn đề “thời gian hợp lý” giữa các Quốc gia Thành viên Công ước CISG, nên khoảng thời gian trung bình một tháng sẽ được áp dụng. Khoảng thời gian này bắt đầu ngay khi bên mua nhận thức được sự thiếu phù hợp của hàng hóa.
(ii) Theo mô tả, bên mua đã ngay lập tức kiểm tra lô hàng đầu tiên, gồm 2.000 trong số 7.000 bản mạch đặt mua, sau khi hàng được giao ngày 31/8/2004. Cần lưu ý rằng việc thanh toán cho lô hàng đầu tiên này không phải là đối tượng tranh chấp. Bên mua tuyên bố rằng đã xác định được sự không phù hợp của các bản mạch này trước ngày 22/9/2004 và rằng bên mua đã thông báo cho bên bán về sự không phù hợp qua điện thoại. Theo bên mua, thông báo đã được xác nhận bằng văn bản ngày 22/9/2004. Tuy nhiên, email mà bên mua đệ trình ngày 22/9/2004 không đủ chứng minh việc xác nhận đó. Ông Bruno Letellier (nhân viên của bên bán) chỉ nêu trong email rằng ông sẽ cung cấp các tài liệu liên quan cho việc sửa đổi phần mềm sẵn có và rằng ông cũng sẽ cung cấp thông tin cơ bản để kiểm tra âm thanh. Bối cảnh chung liên quan đến “phần mềm được sửa đổi” dường như không đề cập đến phần mềm được cài đặt trên các bản mạch của bên bán, mà là phần mềm do chính bên mua phát triển cho mục đích tích hợp bản mạch của bên bán vào sản phẩm cuối cùng của mình (điện thoại di động). Có thể lấy ví dụ từ email của bên mua ngày 15/10/2004, trong đó bên mua đã yêu cầu bên bán cung cấp thông tin cần thiết cho việc lựa chọn phần cứng chính xác và đưa ra đề xuất về một “phần mềm điều chỉnh âm thanh”. Điều này càng rõ ràng hơn tại các thư ngày 22 và 25/4/2005 của bên mua, trong đó bên mua biện minh cho việc không thanh toán của mình bằng việc dẫn chiếu tới thực tế là có sự chậm trễ trong việc phát triển phần mềm của bên mua. Trong mọi trường hợp, việc bên bán sẵn sàng cung cấp cho bên mua thông tin sửa đổi phần mềm của mình không thể cấu thành sự thừa nhận của bên bán về tính khiếm khuyết của phần mềm của bên bán. Ngay cả phần mềm đầy đủ chức năng cũng cần được sửa đổi theo thời gian, đặc biệt là khi phần mềm đó không phù hợp với nhu cầu của người sử dụng. Tuy nhiên, rõ ràng là bên mua đã xác định điều này. Bên mua đã được phép kiểm tra các bản mạch, và sau đó, đã ký một tuyên bố trong đó chấp nhận phần mềm trong cấu hình hiện tại của bản mạch. Email của bên bán ngày 14/6/2004 bắt nguồn từ thời điểm trước giai đoạn đánh giá sự phù hợp. Bất chấp thực tế rằng tại thời điểm đó chưa xác định rõ vấn đề âm thanh trong sản phẩm cuối cùng của bên mua bắt nguồn từ phần mềm của bên bán hay bởi phần cứng hoặc phần mềm của bên mua, bên mua - vốn đã quyết định mua các bản mạch này vào thời điểm muộn hơn - không được miễn trừ trách nhiệm theo dõi bất kỳ vấn đề âm thanh nào và cung cấp cho bên bán tất cả thông tin, bao gồm cả các khiếm khuyết giả định, sớm nhất có thể.
Mặc dù vẫn khẳng định đã đưa ra thông báo miệng về sự không phù hợp của hàng hóa, bên mua lại không đưa ra được bằng chứng chứng minh cho điều này. Bên mua thậm chí đã không thể đệ trình nội dung cuộc hội thoại với bên bán và nội dung buổi trao đổi trực tiếp tại Paris. Do đó, không thể xác định được liệu bên mua đã thực hiện đầy đủ việc thông báo bằng mọi cách có thể về sự không phù hợp của hàng hóa hay chưa. Tại email ngày 15/10/2004 (vẫn còn thời hạn thông báo tại thời điểm này), bên mua thậm chí không ngụ ý cáo buộc bên bán đã giao các bản mạch không tuân thủ các đặc điểm kỹ thuật của hợp đồng, hoặc các bản mạch này không thể đưa vào sử dụng được. Các lập luận phản đối bên mua đưa ra đều liên quan đến thực tế rằng - trái với lời hứa của mình - bên mua đã không cung cấp các thông tin cần thiết cho việc cải thiện phần cứng của mình và “phần mềm điều chỉnh âm thanh”, vốn được cho là lý do lô hàng 5.000 bản mạch giao đến Hồng Công (Trung Quốc) không thể sử dụng được. Ngoài ra, thư trao đổi sau đó giữa các bên không thể hiện được việc bên mua yêu cầu bên bán chịu trách nhiệm cho sự cố âm thanh xảy ra cho sản phẩm cuối cùng của mình. Thay vào đó, nội dung email ngày 15/10/2004 và ngày 22, 25/4/2005 cho thấy rằng bên mua đã xác định phần mềm cũ của mình chính là nguyên nhân của các sự cố đó. Việc bên mua để bên bán phải chờ đợi thanh toán và thậm chí đưa ra lịch hẹn thanh toán trong khi cho rằng hàng hóa đó không phù hợp với hợp đồng là không hợp lý. Thông thường, một người mua khi gặp phải hàng hóa không phù hợp sẽ thực hiện các quyền của mình như từ chối hàng hóa, yêu cầu khắc phục khiếm khuyết, yêu cầu giảm giá hoặc bồi thường thiệt hại. Trong suốt một khoảng thời gian dài, bên mua đã không thực hiện các quyền đó. Mặc dù trong email ngày 15/10/2004, bên mua đã đề xuất bên bán lấy lại 5.000 bản mạch đã giao tới Hồng Công (Trung Quốc), nhưng email này không đề cập đến bất kỳ cáo buộc nào về sự không phù hợp mà chỉ nêu rằng các bản mạch này thực tế không thể sử dụng được vì bên bán không hỗ trợ để cải thiện phần cứng và cung cấp phần mềm điều chỉnh âm thanh. Cáo buộc của bên mua rằng bản mạch của bên bán không hoạt động được bình thường lần đầu tiên được nêu ra trong thư ngày 10/10/2005, tức là hơn một năm sau khi giao hàng. Từ những tình tiết này, không thể khẳng định rằng các thông báo từ phía bên mua phù hợp với các yêu cầu về thời hạn và nội dung theo quy định tại Điều 39 Công ước CISG. Do đó, bên mua không thể dựa vào lý do không phù hợp đối với lô 5.000 bản mạch điện tử này, và bắt buộc phải thanh toán khoản tiền hàng 205.000 euro cho đơn hàng ngày 30/8/2004, bất kể việc có thể chứng minh được rằng lô hàng này phù hợp hay không.
Các vấn đề vi phạm hợp đồng
Giả định ngay cả trong trường hợp bên mua đã thông báo chính xác cho bên bán về sự không phù hợp của hàng hóa trong khoảng thời gian cần thiết, bên mua vẫn không thể thành công trong việc từ chối nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán.
Theo Điều 49 (1)(a) Công ước CISG, bên mua chỉ có quyền tuyên bố hợp đồng bị vi phạm nếu bên bán không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào theo hợp đồng hoặc vi phạm nghĩa vụ cơ bản theo hợp đồng. Vi phạm hợp đồng bị coi là cơ bản nếu vi phạm đó gây ra sự bất lợi cho bên kia, tước đi những gì bên kia có quyền mong đợi theo hợp đồng, trừ khi bên vi phạm không thấy trước được và một người thông thường trong hoàn cảnh tương tự cũng không lường trước được kết quả như vậy. Một khiếm khuyết không thể khắc phục không phải lúc nào cũng bị coi là vi phạm cơ bản hợp đồng, bởi thuật ngữ “cơ bản” bao gồm cả đánh giá về thực tế liệu những kỳ vọng của bên mua có thể được thỏa mãn hoàn toàn bằng cách yêu cầu bồi thường thiệt hại hoặc giảm giá hàng hóa không, hay trên thực tế bên mua có thể sử dụng phần nào hàng hóa không phù hợp kết hợp với việc giảm giá hoặc bồi thường thiệt hại. Trong các trường hợp này, có lẽ không nên trao cho bên mua những biện pháp khắc phục đối với các vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Do đó, hàng hóa không thể coi là không phù hợp một cách khách quan và nghiêm trọng nếu có thể được đưa vào sử dụng vào mục đích khác trong quá trình kinh doanh thông thường mà không gây ra bất kỳ bất lợi thương mại vô lý nào cho bên mua.
Trong bản biện hộ của mình, bên mua đã tự nêu lên rằng thực ra các bản mạch điện tử có thể hoạt động được trên thiết bị khác không có chức năng điều chỉnh âm lượng, tuy nhiên, sẽ phải giảm giá mua hàng xuống còn 34 euro/bản mạch. Do vậy, có thể thấy rằng bên mua không bị vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng, và do vậy không có quyền hủy bỏ hợp đồng, trả lại các bản mạch và từ chối thanh toán toàn bộ tiền hàng. Xuyên suốt chuỗi sự kiện, bên mua chưa bao giờ tuyên bố hủy hợp đồng, ít nhất là cho đến thời điểm hiện tại. Theo Điều 26 Công ước CISG, tuyên bố hủy hợp đồng chỉ có hiệu lực khi một bên đã gửi thông báo tới bên kia. Sự tồn tại đơn thuần của một vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng sẽ không tự động dẫn tới việc hủy hợp đồng. Nguyên tắc này đã được Công ước CISG áp dụng mà không có bất cứ trường hợp ngoại lệ nào. Trong trường hợp này, Điều 49(2)(b)(i) Công ước CISG chỉ ra rằng sau khi bên bán giao hàng, bên mua đã mất quyền tuyên bố hủy hợp đồng trừ trường hợp có sự vi phạm nào khác với việc giao hàng trễ, và trong khoảng thời gian hợp lý sau khi bên mua biết hoặc phải biết về sự vi phạm hợp đồng. Tuyên bố hủy hợp đồng không bị ràng buộc về thể thức. Việc hủy hợp đồng có thể được tuyên bố bằng lời nói và thậm chí ngụ ý thông qua hành vi của bên mua, với điều kiện hành vi đó đủ rõ ràng. Bên mua không cần nói cụ thể từ “hủy bỏ”, mà chỉ cần bày tỏ rõ ràng rằng mình không còn sẵn sàng thực hiện hợp đồng do hậu quả của việc vi phạm hợp đồng. Việc tuyên bố hủy hợp đồng cũng không nhất thiết phải được quy định trong điều khoản cụ thể của hợp đồng. Điều quan trọng là bên bán có thể hiểu rằng không thể mong đợi bên mua thực hiện hợp đồng. Bên mua phải có trách nhiệm chứng minh rằng mình đã chuyển tuyên bố hủy hợp đồng với các nội dung cần thiết cho bên bán. Tuyên bố hủy hợp đồng cũng không bắt buộc phải thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn bất hợp lý. Mặt khác, bên mua cũng không được quyền tạm hoãn việc tuyên bố hủy hợp đồng một cách bất hợp lý. Do đó, khoảng thời gian được nêu tại Điều 49 (2)(b)(i) nên được diễn giải theo cách hướng bên mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng trong một khoảng thời gian hợp lý sau khi đã thông báo cho bên bán về sự không phù hợp của hàng hóa.
Dựa trên cách hiểu này, trường hợp email ngày 15/10/2004 đã không chứa đựng tuyên bố hủy hợp đồng theo Điều 49 Công ước CISG bởi đề xuất trả lại 5.000 bản mạch điện tử đã giao tới Hồng Công (Trung Quốc) không xuất phát từ sự không phù hợp của hàng hóa, mà do bên mua tại thời điểm đó không thể sử dụng các bản mạch này vào mục đích khác, cũng như các thông tin cần thiết không được bên bán cung cấp. Trong email ngày 22/4/2005, bên mua nhắc lại đề nghị trả lại hàng với lý do chưa thể thanh toán tiền hàng trong vòng bốn tháng tới do không đủ nguồn lực tài chính. Sau bốn tháng đó, bên mua ở vị thế đã mua 5.000 bản mạch điện tử từ bên bán. Cho đến ngày 10/10/2005, bên mua chưa bao giờ đề cập bất kỳ nội dung nào liên quan đến việc hủy hợp đồng do bên bán không thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng đã giao kết. Việc bên bán yêu cầu bên mua lấy lại hàng do không hoạt động đúng cách tại bức thư này chưa từng được đề cập trong các thư trao đổi trước đó. Hơn nữa, bên mua đã không chứng minh cũng như đưa ra được bằng chứng nào cho thấy đã có thỏa thuận trao đổi miệng giữa các bên. Đến thời điểm ngày 10/10/2005, bên mua không thể có quyền tuyên bố hủy hợp đồng nữa, dù cho có tồn tại vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng. Bên mua không có quyền chờ hơn một năm, sau khi đã xác định được sự không phù hợp của hàng hóa, và chỉ tới khi đó, mới thông tin cho bên bán rằng mình không muốn tuân thủ thực hiện hợp đồng.
Các vấn đề giảm giá
Trường hợp sự không phù hợp của hàng hóa đã được thông báo trong khoảng thời gian phù hợp nhưng tuyên bố hủy hợp đồng được đưa ra quá muộn, bên mua chỉ có quyền giảm giá hàng hóa theo Điều 50 Công ước CISG và yêu cầu bồi thường thiệt hại. Tính toán về thiệt hại bao gồm tất cả các khoản lỗ là hậu quả của việc phá vỡ hợp đồng. Tuy nhiên, giá hàng hóa (trường hợp đã thanh toán) không bao gồm khoản lỗ nếu bên mua không có quyền hủy hợp đồng. Mặt khác, quyền giảm giá hàng hóa trong trường hợp đặc biệt có thể dẫn tới “giảm giá về không” nếu hàng hóa hoàn toàn không thể sử dụng được. Yêu cầu bồi thường thiệt hại của bên mua là một yêu cầu phản tố và do đó sẽ được xem xét bù trừ với yêu cầu của bên bán về thanh toán tiền hàng. Bên mua có lý khi cho rằng mình đã chịu thiệt hại do bên bán giao hàng khiếm khuyết, tuy nhiên, bên mua đã không đưa ra được bất kỳ tính toán hoặc ước lượng về một khoản thiệt hại cụ thể nào và đã không thể chỉ ra chính xác các khoản thiệt hại cụ thể. Bên mua cũng không đưa ra bất kỳ đệ trình nào liên quan đến mức giảm giá. Thay vào đó, các bằng chứng cho thấy bản mạch điện tử không phải hoàn toàn không sử dụng được đối với bên mua, khi có thể sử dụng trong thiết bị thay thế. Do đó, bên mua không thể yêu cầu giảm giá mua hàng.
Như vậy, có thể kết luận rằng bên mua vẫn chịu sự ràng buộc của hợp đồng đặt hàng ngày 30/8/2004. Do không đưa ra thông báo nào về sự không phù hợp của hàng hóa trong khoảng thời gian phù hợp, cũng như không đưa ra tuyên bố hủy hợp đồng trong khoảng thời gian phù hợp, bên mua bắt buộc phải thanh toán tiền hàng cho cả lô hàng 5.000 bản mạch điện tử và 4.000 thiết bị “Pin Female MO110d” vào tháng 9/2004. Thêm vào đó, bên mua không đưa ra bất kỳ đệ trình cụ thể nào cho việc giảm giá hàng hóa cũng như thiệt hại cụ thể là hệ quả của việc vi phạm hợp đồng.
3.2. Phán quyết của Tòa án
Bên mua phải thanh toán toàn bộ tiền hàng cho bên bán, cộng với 5% lãi suất kể từ ngày 22/10/2004. Bên mua phải chịu thanh toán toán bộ chi phí tố tụng phát sinh liên quan.
4. Bình luận chung
4.1. Bình luận của Ban Thư ký CISG
Bình luận của Ban Thư ký CISG dựa trên bản dự thảo năm 1978 của Công ước. Mặc dù đây không phải là bản dự thảo cuối cùng của Công ước, nhưng những bình luận của Ban Thư ký phần nào giúp chúng ta hiểu được ý định của các nhà làm luật, khi xây dựng nên các điều khoản trong Công ước CISG.
Trong bản dự thảo năm 1978, Ban Thư ký đã đưa ra phần bình luận liên quan đến Điều 46 (dự thảo trước đây của Điều 50). Theo đó, Điều 46 (dự thảo trước đây của Điều 50 Công ước CISG) đưa ra các điều kiện mà bên mua có thể yêu cầu giảm giá nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng. Ban Thư ký cũng dẫn chiếu Điều 33 (1) (dự thảo trước đây của Điều 35 (1) CISG) để phân tích thêm, hàng hóa không phù hợp với hợp đồng sẽ là đối tượng của biện pháp giảm giá hàng hóa, trừ trường hợp hàng hóa có số lượng, chất lượng và mô tả theo hợp đồng, được đóng gói hoặc đóng thùng theo yêu cầu của hợp đồng, đáp ứng bốn yêu cầu được quy định tại Điều 33 (1) (Dự thảo trước đây của Điều 35 (2). Hàng hóa vẫn được coi là phù hợp với hợp đồng kể cả khi chúng là đối tượng của quyền và yêu cầu bồi thường của bên thứ ba theo Điều 39 và 40 (dự thảo trước đây của Điều 41 và 42).
Như vậy, từ bình luận của Ban Thư ký, có thể thấy trước khi áp dụng biện pháp giảm giá, cần chú ý xem xét sự phù hợp của hàng hóa. Theo đó, hàng hóa dù là đối tượng của quyền và yêu cầu bồi thường của bên thứ ba, vẫn được coi là phù hợp với hợp đồng, nếu đáp ứng đầy đủ các quy định theo hợp đồng. Khi đó, bên mua sẽ không được quyền áp dụng biện pháp giảm giá. Ngoài ra, trường hợp hàng hóa không phù hợp với quy định của hợp đồng, nhưng thuộc một trong bốn trường hợp được liệt kê tại khoản 2 Điều 35 Công ước CISG thì vẫn thuộc đối tượng loại trừ của việc áp dụng biện pháp giảm giá hàng hóa, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác. Việc quy định “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” có thể hiểu theo nghĩa, các bên thống nhất và đưa ra quy định cụ thể trong hợp đồng về việc không áp dụng quy định loại trừ áp dụng biện pháp giảm giá hàng hóa như quy định tại Điều 35 (2).
Ngoài ra, cũng tương tự như một số học giả đã bình luận, Ban Thư ký cũng chỉ ra rằng giảm giá hàng hóa là một biện pháp tự vệ không phổ biến trong một số hệ thống pháp luật. Các hệ thống pháp luật này đơn thuần chỉ xem xét biện pháp tự vệ này như một hình thức bồi thường thiệt hại vì không thực hiện nghĩa vụ hợp đồng. Tuy nhiên, mặc dù hai biện pháp bồi thường thiệt hại và giảm giá hàng hóa đôi khi mang lại cùng một kết quả (kết quả biện pháp giảm giá hàng hóa có thể tương tự như như việc hủy một phần nghĩa vụ hợp đồng như quy định tại Điều 47 (dự thảo trước đây của Điều 51)), nhưng đây được coi là hai biện pháp riêng biệt mà bên mua có quyền lựa chọn áp dụng theo quy định của Công ước CISG.
Mặc dù cả Điều 46 (dự thảo năm 1978) và Điều 50 (Công ước CISG hiện nay) đều đưa ra khái niệm cơ bản về giảm giá hàng hóa, nhưng cách tính toán giảm giá lại có sự khác biệt. Theo đó thời điểm đánh giá sự không phù hợp của hàng hóa được thay đổi từ thời điểm ký kết hợp đồng sang thời điểm giao hàng. Quy định như hiện hành được đánh giá là sát và phù hợp với thực tiễn hoạt động mua bán hơn. Ngoài ra, cách tiếp cận về quyền của bên bán để khắc phục hậu quả do sự không phù hợp của hàng hóa cũng được mở rộng. Theo đó, thay vì chỉ được quyền khắc phục hậu quả sau khi giao hàng (Điều 48), bên bán được mở rộng quyền khắc phục hậu quả trước khi giao hàng, nếu như bên bán giao hàng trước thời hạn theo hợp đồng (Điều 37). Cách tiếp cận này rõ ràng là phù hợp với thực tiễn và công bằng hơn cho bên bán, đảm bảo đúng tinh thần của áp dụng của biện pháp giảm giá hàng hóa.
4.2. Bình luận chung
Điều 50 quy định biện pháp giảm giá hàng hóa trong trường hợp bên bán giao hàng không phù hợp với hợp đồng. Trong trường hợp này, bên mua có quyền giảm giá mua hàng theo tỷ lệ giá trị hàng hóa bị sụt giảm. Tuy nhiên, biện pháp này không được áp dụng trong trường hợp bên bán đã áp dụng biện pháp khắc phục theo Điều 37 hoặc 48, hoặc bên mua từ chối cho bên bán cơ hội khắc phục đó.
Giảm giá hàng hóa là một trong các biện pháp bên mua được áp dụng, trao cho bên mua một quyền thay thế cho yêu cầu bồi thường nghĩa vụ, thiệt hại hay vi phạm cụ thể. Trong số các biện pháp này, bên mua có quyền tự do lựa chọn. Giảm giá hàng hóa có thể được áp dụng ngay cả trong trường hợp khoảng thời gian hợp lý về vi phạm hợp đồng (Điều 49(2)) đã hết hạn. Thay vì, hoặc cùng với việc giảm giá, bên mua có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại cho các tổn thất còn lại.
Điều kiện để áp dụng biện pháp giảm giá hàng hóa
Điều 50 được áp dụng trong trường hợp hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng. Tính chất không phù hợp được hiểu theo nghĩa nêu tại Điều 35, là thiếu hụt về số lượng, chất lượng, mô tả (aliud) và đóng gói. Tính chất này cũng được áp dụng trong trường hợp việc đóng gói không đầy đủ hoặc không an toàn gây ra tình trạng hàng hóa bị phá hủy hoặc hư hỏng. Ngoài ra, việc thiếu các tài liệu liên quan đến hàng hóa cũng có thể được coi là không phù hợp. Tuy nhiên, biện pháp giảm giá không được áp dụng trong trường hợp vi phạm hợp đồng do giao hàng trễ hoặc vi phạm của bên bán đối với bất kỳ nghĩa vụ nào không liên quan đến việc giao hàng phù hợp.
Giảm giá hàng hóa được áp dụng trong trường hợp tính chất không phù hợp cấu thành vi phạm cơ bản hoặc đơn giản là vi phạm hợp đồng, bất kể việc người bán có hành động bất cẩn hay không, hoặc có được miễn trách nhiệm theo Điều 79 hay không. Do đó, ngay cả khi thiệt hại được loại trừ theo Điều 79, giảm giá hàng hóa vẫn có thể được áp dụng. Hơn nữa, biện pháp này không phụ thuộc vào việc bên mua đã trả tiền hay chưa.
Tuy nhiên, việc giảm giá hàng hóa dựa trên giả định rằng, bên mua đã đưa ra thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo Điều 39 hoặc 43. Nếu không có thông báo trước này, bên mua sẽ không được dựa vào tính chất không phù hợp và bỏ qua mọi biện pháp khắc phục. Điều 44 đưa ra một ngoại lệ trong trường hợp bên mua có thể bào chữa một cách hợp lý việc không thông báo sự không phù hợp, trong trường hợp đó, bên mua có quyền áp dụng biện pháp giảm giá hàng hóa theo Điều 50 (hoặc yêu cầu bồi thường thiệt hại khác ngoài thiệt hại về lợi nhuận). Về khoảng thời gian hợp lý để dưa ra thông báo về sự không phù hợp, Công ước CISG không đưa ra thời gian cụ thể cho từng trường hợp, mà chỉ quy định thời gian tối đa cho mọi trường hợp, thông báo phải đưa ra trong vòng hai năm kể từ khi hàng hóa được giao thực sự cho bên mua (Điều 39(2)). Có thể thấy, do tính chất không rõ ràng này của Công ước, nên việc xác định khoảng thời gian phù hợp để đưa ra thông báo sẽ được cơ quan giải quyết tranh chấp xác định tùy thuộc vào nhiều yếu tố như: tính chất của hàng hóa, cũng như quy định của các bên theo hợp đồng, hay pháp luật mà các bên viện dẫn áp dụng.
Điều 50 yêu cầu bên mua phải bày tỏ ý định giảm giá. Việc bên mua từ chối trả giá được coi là đủ để yêu cầu giảm giá, và giảm giá hàng hóa về không.
Câu thứ hai của Điều 50 ít nhiều đã đưa ra nguyên tắc bằng chứng rằng biện pháp giảm giá không được áp dụng trong trường hợp bên bán đã khắc phục sự không phù hợp của hàng hóa theo Điều 37 (khắc phục trong trường hợp giao hàng sớm) hoặc theo Điều 48 (khắc phục sau ngày giao hàng). Biện pháp này cũng không được áp dụng trong trường hợp bên mua từ chối nhận hàng khi bên bán đã đề nghị khắc phục theo các Điều 37 hoặc 48. Ngoài ra, như phần bình luận của Ban Thư ký đã nêu ở trên, biện pháp giảm giá hàng hóa cũng sẽ không được áp dụng trong trường hợp, hàng hóa đó mặc dù không phù hợp với hợp đồng, nhưng thuộc một trong bốn trường hợp được nêu tại Điều 35(2), trừ khi các bên có thỏa thuận khác. Đây chính là lập luận mà tòa án đã dựa vào để bác bỏ cáo buộc của bên mua về sự không phù hợp của hàng hóa trong vụ kiện mua bán bản mạch điện tử giữa doanh nghiệp Pháp và Thụy Sĩ đã nêu ở trên.
Như đã được nêu tại Điều 45(2), bên mua có thể kết hợp các biện pháp yêu cầu bồi thường khác nhau, do đó, bên mua có thể yêu cầu giảm giá đồng thời với việc đòi bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong trường hợp này, thiệt hại chỉ được bồi thường cho tổn thất khác ngoài giá trị hàng hóa bị giảm giá, vì tổn thất này đã được phản ánh khi áp dụng biện pháp giảm giá.
Tính toán Giảm giá
Việc tính toán giảm giá hàng hóa phải dựa trên tỷ lệ: giá hàng hóa theo hợp đồng được giảm dựa trên tỷ lệ giữa giá trị hàng hóa không phù hợp được giao so với giá trị hàng hóa phù hợp phải giao. Giá trị hàng hóa liên quan được xác định từ ngày giao hàng thực tế tại địa điểm giao hàng. Trường hợp không đủ lượng trong bao bì hoặc bình chứa khiến cho hàng hóa hoàn toàn không thể sử dụng được (do hàng hóa đó bị nứt hoặc không kín), giá trị các hàng hóa đó không được tính tại thời điểm trước thời điểm vận chuyển, mà sẽ được tính tại thời điểm sau khi các hàng hóa đó đến điểm giao hàng.
Trường hợp hàng hóa được giao hoàn toàn không có giá trị, giá hàng hóa có thể được giảm về không. Bên mua vẫn có quyền này ngay cả khi đã mất quyền tuyên bố vi phạm hợp đồng do hết thời gian (Điều 49(2)). Giảm giá hàng hóa có tác dụng gần giống với biện pháp phạt vi phạm hợp đồng (trường hợp không áp dụng biện pháp khắc phục), ngoại trừ việc không bắt buộc bên mua phải trả lại hàng hóa.
Các bên được tự do thỏa thuận về cách tính toán cụ thể giảm giá hàng hóa. Trường hợp các bên nhất trí rằng bên mua có thể bán lại các hàng hóa không phù hợp với giá tốt nhất có thể, thì bên mua có thể giảm giá hợp đồng ban đầu dựa trên chênh lệch so với giá bán lại.
Trường hợp có tranh chấp giữa các bên và không thể xác định được cách tính toán giảm giá cụ thể, giá trị hàng hóa tương ứng có thể được xác định bởi các chuyên gia định giá.
Địa điểm giảm giá
Địa điểm tiến hành việc giảm giá là nơi hàng hóa được giao.
Trường hợp đã trả tiền mua hàng, bên mua có thể dựa vào Điều 50 để yêu cầu trả lại tiền. Điều này thể hiện thông qua đoạn “tiền hàng đã được trả hay chưa” nêu tại Điều 50. Tuy nhiên, một tòa án đã chỉ ra rằng, CISG không áp dụng trong trường hợp bên mua đã trả tiền hàng nhưng có quyền yêu cầu bên bán giảm giá và trả lại phần tiền tương ứng. Theo tòa án này, bên mua có thể thu hồi lại số tiền này trong trường hợp áp dụng luật quốc gia hiện hành về làm giàu bất chính hoặc quy định về bồi thường.
Nghĩa vụ chứng minh
Công ước CISG chỉ ra rằng, bên mua có nghĩa vụ đưa ra bằng chứng chứng minh cho việc giảm giá hàng hóa.
*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 1, 33, 35, 37, 39, 48, 49 và 50 CISG.
“Ðiều 1
1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.
a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,
b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.
2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.
3. Quốc tịch của các bên, tính chất dân sự hay thương mại của các bên hoặc của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này.”
“Ðiều 33: Người bán phải giao hàng
a) Ðúng vào ngày giao hàng mà hợp đồng đã quy định, hay có thể xác định được bằng cách tham chiếu vào hợp đồng.
b) Vào bất kỳ thời điểm nào trong khoảng thời gian được hợp đồng ấn định hay có thể xác định được khoảng thời gian giao hàng bằng cách tham chiếu vào hợp đồng, nếu như không thể căn cứ vào các tình tiết để biết ngày giao hàng mà người mua ấn định là ngày nào.
c) Trong trường hợp khác, trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng được ký kết.”
“Ðiều 35
1. Người bán giao hàng đúng số lượng, phẩm chất và mô tả như quy định trong hợp đồng, và đúng bao bì hay đóng gói như hợp đồng yêu cầu.
2. Ngoại trừ những trường hợp đã được các bên thỏa thuận khác, hàng hóa bị coi là không phù hợp với hợp đồng nếu:
a. Hàng hóa không thích hợp cho các mục đích sử dụng mà các hàng hóa cùng loại vẫn thường đáp ứng.
b. Hàng không thích hợp cho bất kỳ mục đích cụ thể nào mà người bán đã trực tiếp hoặc gián tiếp biết được vào lúc ký hợp đồng, trừ trường hợp nếu căn cứ vào các hoàn cảnh cụ thể có thể thấy rằng không dựa vào ý kiến hay sự phán đoán của người bán hoặc nếu đối với họ làm như thế là không hợp lý.
c. Hàng không có các tính chất của hàng mẫu hoặc kiểu dáng mà người bán đã cung cấp cho người mua.
d. Hàng không được đóng phong bì theo cách thông thường cho những hàng cùng loại hoặc, nếu không có cách thông thường, thì bằng cách thích hợp để giữ gìn và bảo vệ hàng hoá đó
3. Người bán không chịu trách nhiệm về việc giao hàng không đúng hợp đồng như đã nêu trong các điểm từ a đến d của khoản trên nếu như người mua đã biết hoặc không thể không biết về việc hàng không phù hợp vào lúc ký kết hợp đồng.”
“Ðiều 37
Trong trường hợp giao hàng trước thời hạn, người bán có quyền, cho tới trước khi hết hạn giao hàng, giao một phần hay một số lượng thiếu, hoặc giao hàng mới thay cho hàng đã giao không phù hợp với hợp đồng, hoặc khắc phục mọi sự không phù hợp của hàng hóa đã giao với điều kiện là việc làm đó của người bán không gây cho người mua một trở ngại hay phí tổn vô lý nào. Tuy nhiên người mua có quyền đòi hỏi bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.”
“Ðiều 39
1. Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu người mua không thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó.
2. Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng.”
“Ðiều 46
1. Người mua có thể yêu cầu người bán phải thực hiện nghĩa vụ, trừ phi người mua sử dụng một biện pháp bảo hộ pháp lý không hợp với yêu cầu đó.
2. Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể đòi người bán phải giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng và yêu cầu về việc thay thế hàng phải được đặt ra cùng một lúc với việc thông báo những dữ kiện chiếu theo điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau đó.
3. Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, người mua có quyền đòi người bán phải loại trừ sự không phù hợp ấy, trừ những trường hợp khi điều này không hợp lý xét theo tất cả các tình tiết. Việc yêu cầu loại trừ sự không phù hợp của hàng hóa so với hợp đồng phải được tiến hành hoặc là cùng một lúc với thông báo những dữ kiện chiếu theo điều 39 hoặc trong một thời hạn hợp lý sau đó.”
“Ðiều 48
1. Với điều kiện tuân thủ quy định của điều 49 người bán có thể, ngay cả sau khi hết thời hạn giao hàng, loại trừ mọi thiếu sót trong việc thực hiện nghĩa vụ của mình, phí tổn do người bán chịu, với điều kiện là điều đó không kéo theo một sự chậm trễ vô lý mà không gây ra cho người mua những trở ngại phi lý hay tình hình bất định về việc người bán phải hoàn trả các phí tổn mà người mua gánh chịu. Tuy nhiên, người mua duy trì quyền đòi bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.
2. Nếu người bán yêu cầu người mua cho biết là người mua có chấp nhận việc loại trừ thiếu sót nói trên của người bán hay không và nếu người mua không đáp ứng yêu cầu này của người bán trong một thời hạn hợp lý, thì người bán có thể loại trừ thiếu sót đó trong phạm vi thời hạn mà người bán đã ghi trong đơn yêu cầu. Người mua không thể, trước khi mãn hạn ấy, sử dụng bất cứ biện pháp bảo hộ pháp lý nào không thích hợp cho việc thi hành nghĩa vụ của người bán.
3. Nếu người bán thông báo cho người mua rằng người bán sẽ thực hiện việc loại trừ thiếu sót trong một thời hạn ấn định thì cần hiểu rằng thông báo nói trên bao gồm cả yêu cầu người mua cho biết họ chấp nhận việc loại trừ thiếu sót hay không chiếu theo quy định của khoản 2 nói trên.
4. Yêu cầu hay thông báo của người bán theo quy định của các khoản 2 hay 3 của điều này sẽ không có hiệu lực nếu người mua không nhận được.”
“Ðiều 49
1. Người mua có thể tuyên bố hủy hợp đồng:
a. Nếu việc người bán không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng hay từ Công ước này cấu thành một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, hoặc:
b. Trong trường hợp không giao hàng: Nếu người bán không giao hàng trong thời gian đã được người mua gia hạn thêm cho họ chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc nếu người bán tuyên bố sẽ không giao hàng trong thời gian được gia hạn này.
2. Tuy nhiên trong trường hợp nếu người bán đã giao hàng thì người mua sẽ mất quyền hủy hợp đồng nếu người mua đã không tuyên bố hủy hợp đồng.
a. Khi người mua giao hàng chậm trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã biết rằng việc giao hàng đã được thực hiện .
b. Ðối với mọi trường hợp vi phạm trừ trường hợp giao hàng chậm trễ, trong một thời hạn hợp lý:
Kể từ lúc người mua đã biết hay đáng lẽ phải biết về sự vi phạm đó.
Sau khi đã hết mọi thời hạn mà người mua đã gia hạn thêm cho người bán chiếu theo khoản 1 điều 47 hoặc sau khi người bán đã tuyên bố rằng, họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình trong thời hạn đã được gia hạn thêm đó, hoặc:
Sau khi đã hết mọi thời hạn bổ sung mà người bán đã yêu cầu chiếu theo khoản 2 điều 48 hay sau khi người mua đã tuyên bố là họ không chấp nhận cho người bán thực hiện nghĩa vụ.”
và
“Ðiều 50
Trong trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, dù tiền hàng đã được trả hay chưa người mua có thể giảm giá hàng theo tỷ lệ căn cứ vào sự sai biệt giữa giá trị thực của hàng hóa vào lúc giao hàng và giá trị của hàng hóa nếu hàng phù hợp hợp đồng vào lúc giao hàng. Tuy nhiên, nếu người bán loại trừ mọi thiếu sót trong việc thực hiện nghĩa vụ chiếu theo điều 37 hoặc điều 48 hoặc nếu người mua từ chối chấp nhận việc thực hiện của người bán chiếu theo các điều này thì người mua không được giảm giá hàng."