Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thiết bị âm thanh) giữa doanh nghiệp Ấn Độ (Ecotune Private Ltd.) với doanh nghiệp Argentina (Cencosud S.A) xét xử tại Tòa án phúc thẩm thương mại quốc gia, Tòa F, Buenos Aires, Argentina

Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thiết bị âm thanh) giữa doanh nghiệp Ấn Độ (Ecotune Private Ltd.) với doanh nghiệp Argentina (Cencosud S.A) xét xử tại Tòa án phúc thẩm thương mại quốc gia, Tòa F, Buenos Aires, Argentina

1. Các bên tranh chấp

Bên bán: Ecotune (Ấn Độ)

Bên mua: Cencosud S.A. (Argentina)

Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án phúc thẩm thương mại quốc gia, Tòa F, Buenos Aires, Argentina.

2. Diễn biến tranh chấp

Người bán đã ký kết hợp đồng mua bán quốc tế với công ty được đặt tại Buenos Aires. Hợp đồng nói trên đã tạo ra một khoản tín dụng chứng từ, hết hạn vào ngày 15 tháng 3 năm 2002.

Ecotune đã nộp đơn yêu cầu Cencosud S.A. trả số tiền 40.895,70 USD cộng với lãi suất tiền bồi thường và lãi suất tiền phạt. Đối tượng của yêu cầu bồi thường là đòi thanh toán tiền hàng theo hợp đồng vì Người mua đã nhận được hàng hóa tại điểm đến đã thỏa thuận (Buenos Aires) nhưng không trả tiền.

Mối quan hệ giữa các bên phát sinh từ hợp đồng mua bán chứ không phải từ tín dụng chứng từ. Tín dụng chứng từ chỉ cấu thành một bảo đảm cho người bán, vì một ngân hàng phát hành (bên thứ ba) cũng có nghĩa vụ thanh toán. Tuy nhiên, trong trường hợp này, cả người mua và ngân hàng phát hành đều không trả tiền hàng.

Yêu cầu bồi thường

Người bán đã kiện Người mua yêu cầu thanh toán:

  • Tiền hàng (40.895,70 USD);
  • Những thiệt hại phát sinh từ việc không thực hiện hợp đồng;
  • Lãi suất đền bù với tỷ lệ 18% hàng năm, bắt đầu từ ngày thanh toán đến hạn (ngày 15 tháng 3 năm 2002) và kết thúc vào ngày thanh toán có hiệu lực; và
  • Lãi suất chậm trả theo mức lãi suất áp dụng của Ngân hàng Argentina.

Người bán đã gửi các đệ trình sau:

  • Khoản thanh toán bị cáo buộc đã được thực hiện vào ngày 20 tháng 3 năm 2002, nghĩa là sau ngày hết hạn (15 tháng 3 năm 2002),
  • Tại thời điểm đó, ngân hàng phát hành (Banco General de Negocios) không còn được phép hoạt động, và
  • Người mua không yêu cầu Banco General de Negocios chuyển số tiền được cho là đã trả.

Người bán cho rằng luật áp dụng là CISG, vì Điều 1209 Bộ luật Dân sự Argentina quy định áp dụng luật của nơi thực hiện hợp đồng, và hợp đồng được thực hiện tại Buenos Aires, Argentina. Người bán cũng cho biết qua thư trao đổi, Người mua đã thừa nhận khoản nợ. Liên quan đến thiệt hại, người bán cho rằng theo Điều 74 và 78 của CISG, bên bị vi phạm có quyền đòi tiền lãi. Người bán cũng tuyên bố rằng lãi suất phạt, cũng như lãi suất chậm trả phải được thanh toán theo tỷ lệ được áp dụng ở Argentina.

Lập luận của người mua

Người mua đã gửi các đệ trình sau:  Thừa nhận mối quan hệ thương mại của mình với người bán, việc phát hành thư tín dụng và nhận hàng. Tuy nhiên, người mua từ chối số tiền nợ và tiền lãi như yêu cầu của người bán. Người mua cũng phủ nhận đã hành động thiếu thiện chí.

Người mua giải thích rằng để thanh toán hóa đơn do người bán phát hành, họ đã mở một thư tín dụng không thể hủy ngang trong Banco General de Negocios, ghi tên người bán là người thụ hưởng và Shanghai Bank Corporation Ltd. là ngân hàng xác nhận. Họ cũng tuyên bố rằng xác nhận của Shanghai Bank Corporation Ltd. đã trở thành một điều kiện và Banco General de Negocios quyết định không chịu trả chi phí. Do đó, người mua không thể chịu trách nhiệm pháp lý. Người mua tuyên bố rằng người bán có sẵn các công cụ cần thiết để nhận thanh toán và họ tự quyết định không sử dụng chúng.

3. Phán quyết của tòa án

3.1. Xét xử sơ thẩm

Thẩm phán Tòa án cấp dưới đã quyết định luật áp dụng là CISG. Thẩm phán đã chấp nhận yêu cầu bồi thường và yêu cầu Người mua trả số tiền 40.895,70 đô la Mỹ cộng với tiền lãi, cũng như các chi phí của quá trình tố tụng.

Tuy nhiên, chỉ tiền lãi chậm trả mới được thừa nhận còn tiền lãi bồi thường chưa được các bên thỏa thuận.

Tòa án đã quyết định dựa trên các lý do sau:

a) Mặc dù Banco General de Negocios đã ghi nợ số tiền 40.895,70 đô la Mỹ từ tài khoản ngân hàng người mua, nhưng không chứng minh được rằng số tiền đó đã được chuyển vào ngân hàng nước ngoài.

b) Tín dụng chứng từ độc lập với hợp đồng mua bán và do đó, nghĩa vụ của các ngân hàng khác với nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng mua bán.

Người bán đã kháng cáo phán quyết vì những lý do sau:

  • Tiền lãi bồ thường chưa được chấp nhận;
  • Phán quyết không dựa trên CISG, mặc dù Argentina đã tham gia Công ước;
  • Các khoản lãi bồi thường không được tính theo mức lãi suất nhà nước của Nguyên đơn;
  • Tiền lãi phạt không được chấp nhận;
  • Tòa án cho rằng nơi thực hiện hợp đồng là nước của ngân hàng nước ngoài.

3.2. Xét xử phúc thẩm

Phân tích của tòa về việc áp dụng CISG

Mặc dù Thẩm phán Tòa án sơ thẩm cấp dưới cho rằng CISG được áp dụng, nhưng không đưa ra bất kỳ tham chiếu nào đến các điều khoản của Công ước khi phán quyết về vụ án.

Theo Điều 1 (1)(b) của CISG, và mặc dù Cộng hòa Ấn Độ không phải là một quốc gia ký kết, Công ước vẫn điều chỉnh tranh chấp này. Theo nghĩa này, các học giả đã nói rằng, Công ước đã dự tính hai loại bán hàng hóa quốc tế: bán hàng hóa quốc tế giữa các bên được thành lập ở các quốc gia ký kết khác nhau và bán hàng quốc tế đối với hàng hóa mà ít nhất một trong các bên không đến từ một quốc gia ký kết, nhưng theo các quy định của luật tư pháp quốc tế hợp đồng được điều chỉnh bởi luật của một quốc gia ký kết. 

Điều 1209 của Bộ luật Dân sự Argentina quy định rằng: Sự hợp lệ, tính chất và nghĩa vụ của các hợp đồng được ký kết trong hoặc ngoài Cộng hòa Argentina, mà phải được thực hiện tại nước này, sẽ được điều chỉnh bởi luật pháp và tập quán của nước nơi thực hiện, bất kể quốc tịch của các bên. Điều 1210 của bộ luật nói trên cũng quy định rằng: hiệu lực, tính chất và nghĩa vụ của các hợp đồng được ký kết tại Cộng hòa Argentina mà được thực hiện bên ngoài nước này, sẽ được điều chỉnh bởi luật pháp và tập quán của nước nơi thực hiện, bất kể quốc tịch của các bên. Tóm lại, các điều khoản của Bộ luật Dân sự Argentina đặt ra các quy tắc chung cho các hợp đồng và xác định rằng điểm kết nối các hợp đồng với Argentina là “nơi thực hiện”.

Roullion, một nhà bình luận người Argentina, giải thích rằng để xác định nơi thực hiện hợp đồng, các học giả và án lệ đã áp dụng học thuyết về việc thực hiện đặc trưng nhất. Việc thực hiện đặc trưng nhất là việc thực hiện cần thiết cho một hợp đồng cụ thể và không phổ biến trong các hợp đồng khác. Chẳng hạn, trong hợp đồng mua bán, việc thực hiện đặc trưng là việc giao hàng của người bán, chứ không phải việc thanh toán cho hàng hóa, tồn tại trong hầu hết các hợp đồng (như hợp đồng lao động, cho thuê, v.v.). Kết quả là, nếu người bán đã giao hàng tại một quốc gia và người mua đã trả giá ở một quốc gia khác, hợp đồng sẽ được điều chỉnh bởi luật pháp của quốc gia nơi giao hàng được thực hiện. Trong trường hợp hiện tại, việc thực hiện đặc trưng nhất là việc giao hàng, là trách nhiệm của người bán được đặt tại Cộng hòa Ấn Độ.

Vì không có tranh cãi về việc các bên đã quy định điều khoản FOB trong hợp đồng, nên có thể kết luận rằng nơi thực hiện là cảng đi ở Cộng hòa Ấn Độ. Thuật ngữ FOB, có nghĩa là miễn trách nhiệm trên boong tàu, và ngụ ý rằng người bán đã giao hàng khi hàng được chất lên tàu. Điều này có nghĩa là người mua phải chịu mọi chi phí và rủi ro từ thời điểm đó. Tuy nhiên, để quyết định vụ việc, ý định của các bên phải được tính đến và họ đồng ý rõ ràng rằng địa điểm giao hàng là cảng của thủ đô Buenos Aires, Cộng hòa Argentina. Nói cách khác, mặc dù các bên đã ghi điều khoản FOB, theo ý chí tự do của các bên, họ đã giới hạn điều khoản đó bằng cách chỉ ra cảng Buenos Aires là nơi có việc thực hiện đặc trưng nhất.

Trong thực tế, nguyên tắc tự do ý chí của các bên có thể được tìm thấy trong Điều 1200, 1212 và 1212 của Bộ luật Dân sự Argentina, theo đó, một hợp đồng liên quan đến Argentina được điều chỉnh bởi luật của nơi thực hiện; và vì các bên có thể chọn nơi thực hiện (Điều 1212) nên họ hoàn toàn có thể chọn luật áp dụng.

Do đó, vì các quy tắc của luật tư pháp quốc tế được đề cập ở trên và ý chí tự do của các bên dẫn tới việc áp dụng luật pháp Argentina - là quốc gia ký kết CISG và hoạt động đặc trưng nhất diễn ra trong lãnh thổ của Argentina, nên chỉ có thể kết luận rằng vụ việc này được điều chỉnh bởi CISG, theo Điều 1.1.b của Công ước nói trên.

Thiệt hại

Vì CISG là luật áp dụng, tòa án đã xem xét liệu tiền lãi bồi thường có được chấp nhận hay không.

Người bán căn cứ vào Điều 61.1.b, 74 và 78 của CISG để kháng cáo. Điều 61 quy định rằng: Nếu người mua không thực hiện bất kỳ nghĩa vụ nào của mình theo hợp đồng hoặc Công ước này, thì người bán có thể... đòi bồi thường thiệt hại theo quy định tại các Điều từ 74 đến 77.

Điều 74 quy định: Các thiệt hại do vi phạm hợp đồng của một bên bao gồm một khoản tiền tương đương với tổn thất, bao gồm tổn thất lợi nhuận, do bên kia phải chịu do hậu quả của việc vi phạm. Những thiệt hại như vậy có thể không vượt quá tổn thất mà bên vi phạm đã thấy trước hoặc phải thấy trước vào thời điểm ký kết hợp đồng, trong bối cảnh các sự kiện và vấn đề mà sau đó anh ta biết hoặc nên biết, như hậu quả có thể của việc vi phạm hợp đồng.

Cuối cùng Điều 78 quy định: Nếu một bên không trả tiền hàng hoặc bất kỳ khoản tiền nào khác đang bị truy thu, thì bên kia có quyền hưởng lãi, mà không ảnh hưởng đến bất kỳ yêu cầu bồi thường thiệt hại nào có thể thu hồi được theo Điều 74.

Người mua đã không thực hiện nghĩa vụ trả tiền hàng theo phương thức đã thỏa thuận (Điều 53 và 54 CISG). Chắc chắn, chỉ có thể kết luận rằng xét theo Điều 25, nghĩa vụ thanh toán là rất cần thiết, vì nó đã tước của người bán khỏi những gì họ có thể mong đợi từ hợp đồng.

CISG quy định nguyên tắc bồi thường đầy đủ. Tuy nhiên, nguyên tắc này không mở rộng cho tiền lãi bồi thường mà các bên không thỏa thuận rõ ràng. Bên cạnh đó, hai khía cạnh phải được tính đến. Đầu tiên, theo luật án lệ, khoản bồi thường không thể vượt quá những gì bên vi phạm có thể hoặc phải dự kiến. Thứ hai, bên bị tổn thất phải có biện pháp hợp lý để giảm thiểu thiệt hại. 

Các phân tích của tòa án cấp dưới như trên phù hợp với Điều 74 CISG, trong đó tuyên bố rằng khoản bồi thường bao gồm một khoản tiền bằng với tổn thất, bao gồm mất lợi nhuận là tiền lãi chậm trả. Hơn nữa, hợp đồng không quy định bất kỳ khoản tiền lãi nào, do đó tòa không thể chấp nhận yêu cầu về tiền lãi. Kháng cáo của người bán bị bác bỏ.

Ý kiến khác của Thẩm phán Alejandra Tevez trong hội đồng xét xử

Thẩm phán Alejandra Tevez đã đồng ý với các thẩm phán khác về khả năng áp dụng CISG. Tuy nhiên, bà đã đưa ra một ý kiến không đồng tình liên quan đến tiền lãi bồi thường theo Điều 74 CISG.

  • CISG quy định Điều 45 (1) nguyên tắc bồi thường đầy đủ, theo đó, bên vi phạm phải bồi thường toàn bộ thiệt hại do vi phạm hợp đồng đó. Mục đích của quy định này là đưa bên bị tổn thất về tình trạng tương tự mà họ sẽ được hưởng nếu bên kia không vi phạm hợp đồng. Khả năng được trả tiền lãi bồi thường phải được phân tích phù hợp với Điều 74 và 78 CISG.
  • Điều 74 đề cập đến quyền của bên yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm của bên kia gây ra. Điều 78 quy việc trả lãi không ảnh hưởng đến yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 74. Trên thực tế, chính vì sự khác biệt giữa thiệt hại và tiền lãi mà nghĩa vụ bồi thường thiệt hại không phải chịu giới hạn bởi quy định tính có thể dự đoán trước của Điều 74 cũng như các quy tắc miễn trừ được quy định trong Điều 79 và 89 CISG.

Việc Người bán không thể thu được lợi nhuận từ khoản thanh toán đáng lẽ được nhận đã gây ra thiệt hại mà cần phải được bồi thường thích đáng.

Điều 78 quy định rằng: Nếu một bên không trả tiền hàng hoặc bất kỳ khoản tiền nào khác đang bị truy thu, thì bên kia có quyền hưởng lãi, mà không ảnh hưởng đến bất kỳ yêu cầu bồi thường thiệt hại nào có thể được bù đắp theo Điều 74. Trong mối liên hệ này, số tiền hàng không được trả sẽ sinh lãi.

Theo nghĩa này, nghĩa vụ trả lãi là độc lập với nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Do đó: i) cả hai nghĩa vụ có thể cộng gộp; và ii) bên bị thiệt hại được giảm bớt gánh nặng chứng minh, bởi vì CISG cho rằng tiền lãi phải được trả ngay từ khi vi phạm xảy ra. Những khoản lãi được đề cập trong Điều 74 là tiền bồi thường, nghĩa là, những khoản phát sinh từ việc người mua sử dụng quá hạn một số tiền nhất định, mà vào thời điểm đó số tiền này phải thuộc về người bán.

Lịch sử xây dựng Điều 78 cho thấy rằng nó đề cập đến tiền lãi bồi thường vì thực tế là nó nằm ở một phần khác với thiệt hại và thông qua lời văn của Điều này. Rõ ràng là nó không đề cập đến tiền lãi chậm trả, nhưng đề cập đến khoản bồi thường cho chủ nợ vì việc chậm thanh toán đã mang lại lợi ích cho người nợ, bất kể chủ nợ có chịu bất kỳ thiệt hại nào từ sự chậm trễ này hay không. Hơn nữa, việc luật pháp trong nước cấm quyền yêu cầu tiền lãi trong trường hợp chậm thanh toán là không liên quan. 

Hơn nữa, có thể suy ra một cách hợp lý từ thực tế rằng người bán là một thương nhân, việc không thanh toán đã ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thương mại của họ, vì rõ ràng mục đích của họ là kiếm lợi nhuận. Không thể bỏ qua rằng người bán đã hoàn thành nghĩa vụ giao hàng và tám năm sau, họ chưa nhận được thanh toán. Kết quả là, số tiền đó không thể được sử dụng cho bất kỳ khoản đầu tư nào khác. Mặt khác, người mua đã nhận được lợi ích từ hợp đồng, vì không những họ không trả tiền mà còn nhận được hàng, bán chúng và thu được lợi nhuận. Hành vi đó không thể được thừa nhận vì nó đi ngược lại một trong những mục đích của Công ước, đó là thúc đẩy việc tuân thủ thiện chí trong thương mại quốc tế.

Công ước không yêu cầu một mức độ chắc chắn cụ thể mà Thẩm phán phải tìm thấy để chấp nhận yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, sự im lặng như vậy không được hiểu theo nghĩa là nó đòi hỏi bằng chứng đầy đủ về thiệt hại, và bằng chứng hợp lý là đủ.

Đúng là, theo Bộ luật Dân sự Argentina, tiền lãi bồi thường chỉ phát sinh từ thỏa thuận của các bên và chỉ có lãi suất mặc định (do chậm trễ thực hiện) phát sinh từ một điều khoản hợp pháp (Điều 62 Bộ luật Dân sự Argentina). Tuy nhiên, vì luật điều chỉnh trường hợp này là CISG, tiền lãi phải được chấp nhận như được quy định trong Điều 61 (1)(b), 74 và 78.

Công ước không có quy định về mức tính lãi suất. Thiếu sót này là do sự thất bại của các đề xuất khác nhau được gửi trong quá trình soạn thảo Công ước (một số quốc gia không có mức lãi suất luật định và cũng có nhiều ý kiến khác nhau về việc áp dụng hệ thống pháp luật của nước người nợ hay chủ nợ). Trong trường hợp không có quy định rõ ràng, tỷ lệ lãi suất phải được thỏa thuận bởi các bên và khi không có thỏa thuận, tỷ lệ này phải dựa trên luật đã được tuyên bố áp dụng. Nếu luật áp dụng cũng không có quy định, như trong vụ việc này, lãi suất tại địa điểm kinh doanh của chủ nợ phải được áp dụng. Điều này là do mức lãi suất như vậy sẽ phù hợp nhất với mục đích của CISG. Theo nghĩa này, Tòa án Đức thấy rằng lãi suất của Nhà nước người bán phải được áp dụng vì việc không thanh toán ngăn cản anh ta tái đầu tư số tiền đó vào hoạt động kinh doanh của chính mình. 

Tóm lại, Thẩm phán Alejandra Tevez thấy rằng tiền lãi phải được trả cho người bán.

3. Bình luận

Biện pháp khắc phục cho một bên là một vấn đề quan trọng cho bên đó, đặc biệt khi hợp đồng bị vi phạm. Tuy nhiên, các vấn đề liên quan đến quy định này là những vấn đề khó và thực chất là trọng tâm của các cuộc thảo luận xung quanh việc áp dụng luật thương mại. Đồng thời, không có vấn đề nào trong pháp luật hợp đồng thể hiện giả định cơ bản nhiều hơn là quy định về biện pháp khắc phục cho vi phạm hợp đồng. Đây là nơi mà các giải pháp cho phần lớn các tranh chấp trong các giao dịch thương mại trên thực tế được tìm thấy. Về mặt thực tiễn, có thể nói rằng quy định về biện pháp khắc phục là trọng tâm của một hệ thống luật hợp đồng cụ thể, sẽ hỗ trợ mạnh mẽ cho việc hài hòa hóa và cải thiện độ tin cậy của các kết quả giải quyết tranh chấp thường không lường trước được. 

Nhìn chung, các biện pháp khắc phục cho một bên bị vi phạm khi có vi phạm hợp đồng trong tất cả các hệ thống pháp lý có thể được phân thành ba loại cơ bản:

  • Thứ nhất, một bên bị thiệt hại có thể yêu cầu việc thực hiện nghĩa vụ cụ thể. Việc thực hiện nghĩa vụ cụ thể hầu như không mang lại cho bên bị thiệt hại chính xác điều mà anh ta lẽ ra được hưởng, trừ khi việc này đi kèm với một số biện pháp khắc phục bổ sung, chẳng hạn như khắc phục bằng tiền.
  • Thứ hai, bên bị thiệt hại có thể có quyền yêu cầu biện pháp khắc phục thay thế. Một biện pháp khắc phục có liên quan ở đây là bồi thường, và hầu như luôn luôn là một khoản bồi thường bằng tiền cho tổn thất mà bên đó phải chịu cho việc bên kia không thực hiện hợp đồng.
  • Cuối cùng, bên bị thiệt hại có thể có quyền chấm dứt mối quan hệ hợp đồng. Trong trường hợp như vậy, biện pháp khắc phục thứ ba cũng có thể được sử dụng trong đó bên bị thiệt hại được đưa vào tình trạng như khi hợp đồng không được ký kết.

Ba loại biện pháp trên không loại trừ nhau trong đó bồi thường bằng tiền thường đi kèm với yêu cầu thực hiện nghĩa vụ cụ thể hoặc việc chấm dứt hợp đồng. Hơn nữa, các loại biện pháp khắc phục cơ bản được đề cập ở trên cũng xuất hiện trong các biến thể khác nhau, chẳng hạn như quyền giảm giá và đình chỉ thực hiện hợp đồng.

CISG tuân theo hệ thống phân loại nêu trên. Các biện pháp khắc phục cho vi phạm hợp đồng được tóm lược trong Điều 45 và 61 Công ước. Các Điều này đặt ra các biện pháp tương ứng cho người mua và người bán khi có vi phạm hợp đồng. Theo Điều 45 (1) trong đó quy định các biện pháp khắc phục vi phạm hợp đồng của người bán trong trường hợp người bán không tuân thủ hợp đồng hoặc nghĩa vụ CISG, về nguyên tắc, năm biện pháp pháp lý sau đây được xử lý bởi người mua:

  • Quyền thực hiện (Điều 46 (1));
  • Quyền đòi bồi thường (Điều 48);
  • Quyền hủy hợp đồng vì vi phạm cơ bản hợp đồng (Điều 49 (1) (a));
  • Quyền giảm giá (Điều 50, câu 1);
  • Quyền được bồi thường thiệt hại (Điều 45 (1) (b) liên quan đến Điều 74-77). 

Như vậy, Điều 45 cung cấp một quy định chung về các biện pháp khắc phục cho người mua trong trường hợp vi phạm. Tương tự, các biện pháp khắc phục cho người bán được liệt kê tại Điều 61 (1) khi người mua vi phạm. Mặc dù các biện pháp khắc phục cho người bán theo Điều 61 (1) tương đương với những biện pháp khắc phục cho người mua theo Điều 45 (1), chúng ít phức tạp hơn. Điều này là do người mua chỉ có hai nghĩa vụ chính, trả tiền và nhận hàng, trong khi đó nghĩa vụ của người bán phức tạp hơn.

Khoản 1 Điều 61 mô tả chung về các biện pháp khắc phục mà người bán có thể sử dụng khi người mua không thực hiện nghĩa vụ của mình. Để tuyên bố rằng người bán có thể “thực hiện các quyền quy định tại các Điều 62 và 65”, điểm a khoản 1 Điều 61 chỉ viện dẫn đến các điều khoản này mà không quy định hiệu lực pháp lý cho chúng một cách độc lập: bản thân mỗi điều khoản được viện dẫn cho phép người bán bị thiệt hại thực hiện các quyền được mô tả trong đó để người bán có thể sử dụng các quyền đó thậm chí nếu không được viện dẫn tại điểm a khoản 1 Điều 61. Mặt khác, với việc quy định rằng người bán có thể “đòi bồi thường thiệt hại như quy định tại các Điều từ 74 đến 77”, điểm a khoản 1 Điều 61 đem lại cơ sở pháp lý cho quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại đó của người bán; các Điều từ 74 đến 77 chỉ xác định cách mà thiệt hại được tính toán. Do đó, việc trích dẫn điểm b khoản 1 Điều 61 như nguồn cho quyền đòi bồi thường thiệt hại của người bán, như một số phán quyết của tòa án và trọng tài đã làm và không chỉ đơn thuần là viện dẫn đến, ví dụ Điều 74 của Công ước là chính xác.  

Việc người mua không thực hiện nghĩa vụ của mình chỉ là điều kiện tiên quyết cho việc sử dụng các biện pháp khắc phục được viện dẫn tại khoản 1 Điều 61. Do đó, như tuyên bố tại một phán quyết, việc người bán bị thiệt hại sử dụng các biện pháp khắc phục không phụ thuộc vào yêu cầu rằng người bán phải chứng minh người mua có lỗi.

Khoản 1 Điều 61 chỉ đề cập đến các biện pháp khắc phục chủ yếu mà người bán bị thiệt hại có thể sử dụng. Các biện pháp khắc phục khác cùng với các biện pháp được viện dẫn đến tại điều khoản này có thể được sử dụng khi người bán bị thiệt hại do vi phạm của người mua. Các biện pháp khắc phục này được quy định tại các Điều 71, 72, 73, 78 và 88 của Công ước.

Như được phản ánh trong luật án lệ, khó khăn chính trong việc áp dụng khoản 1 Điều 61 phát sinh trong những trường hợp mà hợp đồng mua bán hàng hóa áp đặt cho người mua các nghĩa vụ không được Công ước quy định. Như gợi ý tại tiêu đề của mục có Điều 61 của Công ước (Mục III Phần III, Chương III – “Các biện pháp khắc phục trong trường hợp người mua vi phạm hợp đồng”), việc người mua không thực hiện nghĩa vụ của mình mang lại cho người bán quyền sử dụng các biện pháp khắc phục được quy định trong Công ước, thậm chí khi việc không thực hiện đó liên quan đến nghĩa vụ theo hợp đồng được tạo ra do thực hiện quyền tự quyết của các bên. Do đó trong những trường hợp này không cần thiết phải xem xét pháp luật quốc gia điều chỉnh hợp đồng để xác định các biện pháp khắc phục cho người bán, như cách tiếp cận tại một số phán quyết của các tòa án.

Khoản 2 Điều 61 quy định rằng người bán không bị mất quyền đòi bồi thường thiệt hại nếu lựa chọn quyền sử dụng các biện pháp khắc phục khác. Quy định này rất có ý nghĩa khi người bán hủy hợp đồng. Điều 75 và 76 chỉ rõ cách tính thiệt hại khi hợp đồng bị hủy.

Theo khoản 3 Điều 61, thẩm phán hay trọng tài viên bị mất quyền cấp cho người mua một thời gian gia hạn để thực hiện nghĩa vụ của mình, bao gồm nghĩa vụ trả tiền. Thời gian gia hạn được quy định trong nhiều luật quốc gia khác nhau đã bị đánh giá là trái ngược với các nhu cầu của thương mại quốc tế. Chỉ người bán có thể cho người mua thời gian gia hạn để thực hiện nghĩa vụ của mình. Tuy nhiên một vấn đề vẫn chưa được giải quyết là liệu khoản 3 Điều 61 có tạo trở ngại cho việc áp dụng luật phá sản cho phép người mua thiếu nợ một thời gian gia hạn để thanh toán.

*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 1, 45, 53, 54, 61, 71, 72, 74, 78, 79, 88 và 89 CISG.

“Ðiều 1

1. Công ước này áp dụng cho các hợp đồng mua bán hàng hóa giữa các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau.

a. Khi các quốc gia này là các quốc gia thành viên của Công ước hoặc,

b. Khi theo các quy tắc tư pháp quốc tế thì luật được áp dụng là luật của nước thành viên Công ước này.

2. Sự kiện các bên có trụ sở thương mại tại các quốc gia khác nhau không tính đến nếu sự kiện này không xuất phát từ hợp đồng, từ các mối quan hệ đã hình thành hoặc vào thời điểm ký hợp đồng giữa các bên hoặc là từ việc trao đổi thông tin giữa các bên.

3. Quốc tịch của các bên, tính chất dân sự hay thương mại của các bên hoặc của hợp đồng không được xét tới khi xác định phạm vi áp dụng của Công ước này.”

Ðiều 45

1. Nếu người bán đã không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán hay Công ước này, thì người mua có căn cứ để:

a. Thực hiện những quyền hạn của mình theo quy định tại các điều từ 46 đến 52.

b. Ðòi bồi thường thiệt hại như đã quy định tại các điều từ 74 đến 77.

2. Người mua không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng quyền dùng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác.

3. Không một thời hạn trì hoãn nào có thể được Tòa án hay Trọng tài ban cho người bán khi người mua sử dụng đến bất kỳ biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng.”

Ðiều 53

Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này.”

Ðiều 54

Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của người mua bao gồm các việc áp dụng các biện pháp tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán tiền hàng.”

Ðiều 61

1. Nếu người mua không thực hiện một nghĩa vụ nào đó theo hợp đồng mua bán hay bản Công ước này, thì người bán có thể:

a. Thực hiện các quyền quy định tại các điều 62 và 65.

b. Ðòi bồi thường thiệt hại như quy định tại các điều từ 74 đến 77.

2. Người bán không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng quyền áp dụng các biện pháp bảo hộ pháp lý khác.

3. Không một thời hạn gia hạn nào có thể được tòa án hay Trọng tài ban cho người mua khi người bán viện dẫn một biện pháp bảo hộ pháp lý nào đó mà họ có quyền sử dụng trong trường hợp người mua vi phạm hợp đồng.”

Ðiều 71

1. Một bên có thể ngừng việc thực hiện nghĩa vụ của mình nếu có dấu hiệu cho thấy rằng sau khi hợp đồng được ký kết, bên kia sẽ không thực hiện một phần chủ yếu những nghĩa vụ của họ bởi lẽ:

a. Một sự khiếm khuyết nghiêm trọng trong khả năng thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng.

b. Cung cách sử dụng của bên kia trong việc chuẩn bị thực hiện hay trong khi thực hiện hợp đồng.

2. Nếu người bán đã gửi hàng đi khi phát hiện những lý do nêu trong khoản trên, họ có thể ngăn cản không để hàng hóa được giao cho người mua ngay cả nếu người này giữ trong tay chứng từ cho phép họ nhận hàng. Mục này chỉ liên quan đến các quyền của người mua và người bán đối với hàng hóa.

3. Một bên nào ngừng việc thực hiện hợp đồng, không phụ thuộc vào việc đó xảy ra trước hay sau khi hàng gửi đi, thì phải gửi ngay một thông báo về việc đó cho bên kia và phải tiếp tục thực hiện hợp đồng nếu bên kia cung cấp những bảo đảm đầy đủ cho việc thực hiện nghĩa vụ của họ.”

“Ðiều 72

1. Nếu trước ngày quy định cho việc thi hành hợp đồng, mà thấy hiển nhiên rằng một bên sẽ gây ra một vi phạm chủ yếu đến hợp đồng, bên kia có thể tuyên bố hợp đồng bị hủy.

2. Nếu có đủ thời giờ, bên nào có ý định tuyên bố hợp đồng bị hủy thì phải gửi một thông báo hợp lý cho bên kia để cho phép họ cung cấp những bảo đảm đầy đủ rằng họ sẽ thực hiện nghĩa vụ của mình.

3. Các quy định của khoản trên không áp dụng nếu bên kia đã tuyên bố rằng họ sẽ không thực hiện nghĩa vụ của mình.”

Ðiều 74

Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết.”

Ðiều 78

Nếu một bên chậm thanh toán tiền hàng hay mọi khoản tiền thiếu khác, bên kia có quyền đòi tiền lãi trên số tiền chậm trả đó mà không ảnh hưởng đến quyền đòi bồi thường thiệt hại mà họ có quyền đòi hỏi chiếu theo Điều 74.”

“Ðiều 79

1. Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu quả của nó.

2. Nếu một bên không thực hiện nghĩa vụ của mình do người thứ ba mà họ nhờ thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng cũng không thực hiện điều đó thì bên ấy chỉ được miễn trách nhiệm trong trường hợp:

a. Ðược miễn trách nhiệm chiếu theo quy định của khoản trên, và.

b. Nếu người thứ ba cũng sẽ được miễn trách nếu các quy định của khoản trên được áp dụng cho họ.

3. Sự miễn trách được quy định tại điều này chỉ có hiệu lực trong thời kỳ tồn tại trở ngại đó.

4. Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ. Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo.

5. Các sự quy định của điều này không cản trở từng bên được sử dụng mọi quyền khác ngoài quyền được bồi thường thiệt hại chiếu theo Công ước này.”

Ðiều 88

1. Bên nào phải bảo quản hàng hóa chiếu theo các điều 85 hay 86 có thể bán hàng đi bằng cách thích hợp nếu bên kia chậm trễ một cách phi lý trong việc tiếp nhận hàng hóa hay lấy lại hàng hoặc trong việc trả tiền hàng hay các chi phí bảo quản, nhưng phải thông báo cho bên kia trong những điều kiện hợp lý, ý định phát mãi hàng.

2. Nếu hàng hóa thuộc loại hàng mau hỏng hay khi việc bảo quản nó sẽ gây ra các chi phí phi lý thì bên nào có nghĩa vụ bảo quản hàng hóa chiếu theo các điều 85 hay 86 phải tiến hành các biện pháp hợp lý để bán hàng đi. Theo khả năng của mình họ phải thông báo cho bên kia biết ý định phát mại.

3. Bên bán hàng có quyền giữ trong khoản thu do việc bán hàng đem lại một số tiền ngang với các chi phí hợp lý trong việc bảo quản và phát mại hàng hóa. Họ phải trả phần còn lại cho bên kia.”

Ðiều 89

Tổng thư ký Liên hiệp quốc được chỉ định là người giữ lưu chiểu bản Công ước này.”