Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thép) giữa công ty Trung Quốc với công ty Singapore giải quyết tại Ủy ban Trọng tài thương mại và kinh tế Trung Quốc
Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (thép) giữa công ty Trung Quốc với công ty Singapore giải quyết tại Ủy ban Trọng tài thương mại và kinh tế Trung Quốc
1. Các bên tranh chấp
Nguyên đơn: Bên mua (Trung Quốc)
Bị đơn: Bên bán (Singapore)
Cơ quan giải quyết tranh chấp: Ủy ban Trọng tài thương mại và kinh tế Trung Quốc
2. Diễn biến tranh chấp
Ngày 2 tháng 2 năm 1999, bên mua (Trung Quốc) và bên bán (Singapore) đã ký hợp đồng số DCGA99101 (sau đây gọi là "Hợp đồng") để mua bán 7.600 tấn thép vít xuất xứ từ Nga với giá 185 đô la Mỹ mỗi tấn. Địa điểm vận chuyển là tỉnh Sán Đầu, Trung Quốc. Việc thanh toán qua hai hình thức, gồm khoản thanh toán 175 đô la Mỹ/ tấn bằng L/C và 10 đô la Mỹ/ tấn gửi vào tài khoản do người bán chỉ định (số tiền thanh toán qua chuyển khoản là 80.000 đô la Mỹ). Bên bán sẽ chuyển hàng sau khi bên mua chuyển tiền, hàng phải được chuyển trước ngày 5 tháng 3 năm 1999.
Sau khi ký hợp đồng, bên mua đã phát hành L/C theo đúng thỏa thuận, nhưng khoản thanh toán qua chuyển khoản ngân hàng vào tài khoản của người bán, vì nhiều lý do đã bị trì hoãn. Các bên đã trao đổi qua fax và điện thoại nhiều lần về việc bên mua phải chuyển tiền còn lại, bên bán phải giao hàng và bên bán đề nghị sửa đổi L/C để gia hạn thời gian vận chuyển tải tàu và thời hạn hiệu lực của chính L/C. Người mua đã đồng ý sửa đổi L/C hai lần.
Ngày 3 tháng 3 năm 1999, người bán mới nhận được khoản thanh toán 80.000 đô la Mỹ đã được chuyển vào ngân hàng (sau khi trừ các khoản phí ngân hàng, số dư là 79.995 đô la Mỹ). Ngày 5 tháng 3 năm 1999, người bán đã thông báo cho người mua tên của tàu chở hàng và thời gian khởi hành (10 đến 14 tháng 3) và yêu cầu người mua sửa đổi thời gian vận chuyển (trước đó là 16 tháng 3 năm 1999) trên L/C.
Ngày 10 tháng 3 năm 1999, người mua đã gọi điện yêu cầu người bán hoãn thời gian vận chuyển cho tới khi nhận được thông báo mới vì người mua không xin được giấy phép nhập khẩu. Đồng thời yêu cầu chuyển từ hàng thép vít sang hàng thép cuộn với lý do "... bởi vì tỷ lệ trùng khớp với thông số kỹ thuật của thép mà người bán cung cấp rất khác so với trước và dưới 8.000 tấn, nên hiện giờ công ty chúng tôi yêu cầu thay đổi loại thép vít 7.600 (8.000) tấn thành thép cuộn 7.600 (8.000) tấn ...”
Ngày 9 tháng 4 năm 1999, người bán đã fax cho người mua và nói rằng hàng hóa đã được chuẩn bị trước từ lâu, hàng hóa sẽ được gửi đến người mua muộn nhất trước ngày 14 tháng 4 năm 1999 và, nếu hàng hóa không thể được nhận, người bán phải bán hàng hóa cho người mua khác và yêu cầu bồi thường chênh lệch giữa giá trong hợp đồng và giá bán lại. Đáp lại những khó khăn về giấy phép nhập khẩu mà người mua nêu qua điện thoại, người bán trả lời rằng nếu người mua không thể nhận được giấy phép nhập khẩu trước ngày 14 tháng 4 năm 1999, người mua nên bán lại hàng hóa cho người mua khác để thực hiện thỏa thuận này.
Hai bên sau đó đã không đạt được thỏa thuận. Người mua cho rằng người bán đã chậm trong việc đặt tàu để giao hàng, trong khi người bán cho rằng người mua chậm trễ trong việc thanh toán và nhận hàng. Người bán sau đó nói rằng họ đã bán lại hàng cho người mua khác.
Người mua đã kiện ra Ủy ban Trọng tài và Kinh tế Quốc tế Trung Quốc theo điều khoản trọng tài trong hợp đồng yêu cầu người bán hoàn trả lại số tiền mà người mua đã trả cộng với lãi suất. Người bán đã phản tố lại, yêu cầu người mua trả tiền chênh lệch giữa giá hợp đồng của hai bên với giá hợp đồng bên bán bán lại thép cộng với lãi suất.
3. Phân tích và phán quyết của Trọng tài
Địa điểm kinh doanh của người mua là ở Trung Quốc và người bán tại Singapore. Cả Trung Quốc và Singapore đều là các quốc gia ký kết Công ước CISG. Các bên đều đưa ra tuyên bố hoặc không phản đối việc áp dụng Công ước để điều chỉnh tranh chấp. Do đó, trong vụ việc này Trọng tài đã áp dụng Công ước.
Trong tranh chấp này, Trọng tài đã dựa vào việc xem xét cụ thể trách nhiệm của mỗi bên đối với việc vi phạm hợp đồng để xác định và tính toán mức thiệt hại của từng bên theo Điều 75 và Điều 76 Công ước CISG.
3.1. Lập luận của bên mua
a) Về việc chậm thanh toán 80.000 đô la Mỹ
Người mua cho rằng họ đã hoàn thành cơ bản nghĩa vụ của hợp đồng khi đã phát hành L/C kịp thời và số tiền L/C chiếm 94,6% tổng số thanh toán và do đó họ đã đảm bảo thực hiện cơ bản nghĩa vụ theo hợp đồng.
Người mua đã viện dẫn lý do bất khả kháng cho việc họ chưa chuyển số tiền 76.000 đô la Mỹ tương đương với 5,4 % khoản thanh toán. Cụ thể, bên mua đã viện dẫn đến chính sách kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc yêu cầu bên mua phải có hoá đơn gốc từ bên bán để được mua ngoại hối để chuyển khoản ra nước ngoài cho bên bán. Sau khi người mua thông báo cho người bán về việc này, người bán đã gửi hóa đơn gốc cho người mua, nhưng việc này đã bị trì hoãn cho đến ngày 12 tháng 2 năm 1999 là ngày thứ sáu. Các ngày tiếp theo là ngày nghỉ cuối tuần và nghỉ lễ hội mùa xuân Trung Quốc, ngân hàng đã không tiếp tục làm việc cho đến ngày 22 tháng 2. Vào ngày 22 tháng 2, người mua đã liên lạc ngay với ngân hàng và chuyển 80.000 đô la Mỹ cho người bán vào thứ năm. Người mua cho rằng mặc dù họ đã không gửi 76.000 đô la Mỹ theo thỏa thuận nhưng người mua đã không trì hoãn bất kỳ lúc nào trong việc chuyển 76.000 đô la Mỹ do các biện pháp kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc mà người mua và người bán đã biết.
b) Về các vi phạm của người bán đối với việc chậm giao hàng
Người mua cho rằng người bán đã vi phạm hợp đồng khi người bán đã không chuẩn bị hàng và đã không vận chuyển hàng trước ngày 10 tháng 3 theo L/C đã sửa đổi. Cụ thể, mặc dù người mua đã thúc giục người bán sắp xếp cho lô hàng hai lần vào ngày 26 tháng 2 và ngày 1 tháng 3, nhưng người bán vẫn không tìm tàu cho đến ngày 3 tháng 3 khi người bán nhận được 80.000 đô la Mỹ thông qua chuyển khoản từ người mua. Việc vận chuyển sau đó của người bán đã không thể theo đúng ngày giao hàng được quy định trong L/C. Người bán, vì lợi ích của 5,4% khoản thanh toán, đã từ bỏ nghĩa vụ hành động một cách thiện chí trong việc tích cực tìm kiếm tàu chuyển hàng để đảm bảo lô hàng được vận chuyển trong thời hạn quy định trên L/C đã sửa đổi, do đó họ đã vi phạm cơ bản hợp đồng.
Người mua cũng cho rằng người bán không có ý định huỷ hợp đồng khi họ vẫn tiếp tục yêu cầu người mua sửa đổi L/C để chuyển hàng trong điều kiện không nhận được khoản thanh toán 76.000 USD, và điều này chứng tỏ rằng người bán đã chấp nhận rằng lô hàng đó sẽ trước ngày 10 tháng 3 trong điều kiện không nhận được khoản thanh toán 76.000 đô la Mỹ. Do sự chấp nhận này, người bán đã từ bỏ quyền phản tố về việc không giao hàng cho đến khi nhận được khoản thanh toán; việc người bán có thể đổi ngày giao hàng vào ngày 10 tháng 3 năm 1999, mặc dù chưa nhận được khoản thanh toán 76.000 USD được CISG cho phép.
c) Về Giấy phép nhập khẩu và việc không sửa đổi L/C theo yêu cầu của người bán
Việc người mua từ chối yêu cầu sửa L/C lần thứ ba của người bán và sau đó huỷ hợp đồng được người mua viện dẫn lý do bất khả khảng. Theo đó, tại thời điểm người bán sau đó đã yêu cầu sửa đổi L/C một lần nữa, chính phủ Trung Quốc đã thông báo rằng giấy phép nhập khẩu do người mua nắm giữ sẽ hết hạn vào ngày 31 tháng 3 năm 1999. Xem xét hành trình từ cảng Nga đến Cảng Sán Đầu Trung Quốc và thực tế là con tàu mà người bán dùng để vận chuyển không phù hợp để neo đậu tại cảng Sán Đầu nên không thể gia hạn hiệu lực của giấy phép nhập khẩu của người mua vì vậy sau khi giải thích hoàn cảnh kể trên, người mua đã từ chối yêu cầu sửa đổi L/C từ người bán và hủy hợp đồng.
Vì hợp đồng đã bị hủy bỏ, đơn xin sửa đổi L/C gửi cho người mua thực sự là một đề nghị mới, nhưng đề nghị này không được người mua chấp nhận. Hợp đồng mới chưa được ký kết; không có mối quan hệ pháp lý mới giữa các bên.
d) Người bán không có đủ cơ sở để chứng minh được hàng hoá mà người bán bán lại chính là hàng hoá theo hợp đồng hai bên đã ký kết
Người mua cũng cho rằng người bán đã thay đổi thông số kỹ thuật của hàng hóa nhiều lần mà không có sự đồng ý từ người mua và hàng hóa được bán cho bên thứ ba không phải là những hàng hoá theo hợp đồng được ký bởi người mua và người bán do những thông số kỹ thuật và số lượng giữa các hợp đồng bán lại này không khớp với hợp đồng người mua và người bán đã ký kết. Do đó, người bán không thể kết hợp các hợp đồng này để yêu cầu người mua bồi thường thiệt hại.
Trên cơ sở này, người mua đã nộp đơn lên trọng tài yêu cầu:
- Người bán trả lại ngay 80.000 USD mà người mua đã trả;
- Người bán phải trả lãi 8,946,85 USD cho số tiền đó (tạm thời tính đến ngày 15 tháng 12 năm 2000 cho đến ngày thanh toán thực tế);
- Người bán phải bồi thường cho người mua phí luật sư là 1.067,40 đô la Mỹ (chuyển đổi thành đồng 8,859,42 Nhân dân tệ), chi phí đi lại 2.000 Nhân dân tệ trong quá trình xét xử;
- Người bán phải chịu toàn bộ phí trọng tài.
3.2. Lập luận của người bán
a) Đối với việc gửi hoá đơn gốc theo yêu cầu của người mua trong việc thanh toán 80.000 đô la Mỹ
Người bán không có lỗi trong việc trì hoãn gửi hóa đơn gốc. Theo hợp đồng, người mua phải gửi 80.000 đô la Mỹ vào tài khoản do người bán chỉ định trong vòng bảy ngày làm việc sau khi ký hợp đồng; không có điều kiện kèm theo là người bán phải xuất hóa đơn gốc và gửi hóa đơn cho người mua trước khi chuyển tiền. Sau đó, người mua đã yêu cầu người bán gửi hóa đơn gốc trước khi chuyển tiền dẫn đến một loạt các sự chậm trễ tiếp theo.
b) Các vi phạm của bên mua trong việc huỷ hợp đồng một cách vô lý, không chấp nhận sửa đổi L/C dẫn tới người bán phải bán lại hàng hoá và bị thiệt hại kinh tế
Cụ thể, người mua viện lý do (1) tỷ lệ thép theo thông số kỹ thuật mà người bán gửi là rất khác so với trước đây và (2) số lượng ít hơn 8.000 tấn. Trong đó, lý do thứ hai không phù hợp vì hợp đồng quy định 7.600 tấn. Đối với lý do thứ nhất, theo hợp đồng, có ít nhất 05 loại có đường kính 12 đến 25 milimet có số lượng xấp xỉ bằng nhau, đối với loại có đường kính 25 mm thì số lượng nhiều nhất là 1.000 tấn. Theo bản fax mà người bán gửi người mua ngày 30 tháng 3 năm 1999, sự khác biệt duy nhất trong bản fax này là hàng hóa có kích thước 25 milimet lên tới 1.500 tấn. Đây không phải là lý do để cho phép người mua hủy hợp đồng. Điều 52 (2) CISG quy định rằng: “Nếu người bán giao một số lượng nhiều hơn số lượng quy định trong hợp đồng, thì người mua có thể chấp nhận hay từ chối việc giao số lượng phụ trội. Nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụ trội thì người mua phải trả tiền hàng phụ trội theo giá hợp đồng quy định”. Theo điều khoản số lượng của hợp đồng, người bán được quyền giao dưới 10% số lượng quy định, ít nhất là 6.840 tấn (7.600 - 7.600 * 10%); do đó, người bán vẫn phù hợp với các yêu cầu của hợp đồng dù đã giao 7.500 tấn. Và trong bản fax ngày 30 tháng 3 năm 1999, người bán không bày tỏ rằng người mua không có lựa chọn nào trong việc chấp nhận giao hàng theo thông số kỹ thuật được ghi trong bản fax. Nếu người mua không muốn nhận hàng theo thông số kỹ thuật này, người mua nên thông báo cho người bán và cho người bán cơ hội thay đổi hàng hóa. Hành vi từ chối chấp nhận giao hàng của người mua mà không có bất kỳ thương lượng nào là không có thiện chí.
Điều quan trọng hơn là hai bên đã đồng ý thực hiện hợp đồng trong điều kiện việc vận chuyển vẫn bị trì hoãn. Trong trường hợp này, việc trì hoãn gửi không phải là cơ sở hợp lệ để người mua từ chối gia hạn thời gian hiệu lực của L/C và thời gian giao hàng.
Việc người mua không gia hạn L/C sau ngày 5 tháng 3 năm 1999 được coi một sự từ chối chấp nhận giao hàng và người mua đã vi phạm hợp đồng một cách cơ bản. Dẫn tới người bán phải bán lại hàng và bị thiệt hại về kinh tế. Người bán đã tuyên bố trong phiên điều trần bằng lời nói rằng người bán bán lại là hàng hóa theo hợp đồng và đã nộp bằng chứng toàn diện để chứng minh việc này. Bằng chứng chỉ ra rằng tỷ lệ đo lường của 8.000 tấn hàng hóa được bán lại cho Công ty Campuchia và Công ty Singapore giống như tỷ lệ đo lường trong hợp đồng với người mua.
Trên cơ sở Điều 75 CISG, người bán yêu cầu:
(i) Người mua bồi thường cho chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá bán lại với số tiền là 259.768 đô la Mỹ. Số tiền này được tính toán như sau:
- Đơn giá của hàng hóa theo hợp đồng là 185 đô la Mỹ mỗi tấn CNF Sán Đầu;
- Hợp đồng bán lại lần đầu tiên (sau đây, Hợp đồng bán lại I) đã ký ngày 20 tháng 5 năm 1999 quy định rằng đơn giá của hàng hóa là 178 đô la Mỹ mỗi tấn CIF Kampongsom; cần phải trừ đi số dư của phí bảo hiểm và cước phí để so sánh giá hợp đồng với giá bán lại trong trường hợp này. Phí bảo hiểm cho việc vận chuyển thép từ Nga đến các khu vực châu Á là từ 1-3‰ và được tính theo mức 2‰, Hợp đồng bán lại I có phí bảo hiểm 0,36 đô la Mỹ/tấn (178 đô la Mỹ/tấn * 2), nếu vận chuyển hàng hóa từ cảng Nakhodka ở Nga đến Campuchia là 27 đô la Mỹ / tấn, nhưng cước vận chuyển theo hợp đồng (từ Nga đến Trung Quốc) chỉ là 13 đô la Mỹ/tấn; số dư của cả hai là 14 đô la Mỹ mỗi tấn (27 trừ 13). Do đó, sau khi điều chỉnh phí bảo hiểm và cước vận chuyển, giá sẽ là 163,64 đô la Mỹ/tấn (178 - 0,36 - 14).
- Hợp đồng bán lại lần thứ hai (sau đây, Hợp đồng bán lại II) được ký ngày 14 tháng 10 năm 1999 quy định rằng đơn giá là 150 đô la Mỹ/tấn, CFR Singapore, cước vận chuyển là 25 đô la Mỹ/tấn, cao hơn 12 đô la Mỹ/tấn so với cước vận chuyển sang Trung Quốc (25 trừ 13). Do đó, giá bán lại của Hợp đồng này sau khi giá bán lại Hợp đồng II trừ đi số dư cước vận chuyển theo giá hợp đồng trong trường hợp này, là 138 USD/tấn (150 trừ 12).
- Giá trung bình của Hợp đồng bán lại I và Hợp đồng bán lại II là 150,82 USD/tấn CNF [(163,64 + 138)/2]. Khoản lỗ của người bán bằng cách bán lại hàng hóa là: 185 - 150,82 = 34,18 đô la Mỹ/tấn.
Do đó, tổng số tiền lỗ của người bán khi bán lại là 259.768 đô la Mỹ (34,18 đô la Mỹ/tấn * 7.600 tấn).
(ii) Người mua phải trả khoản lợi nhuận mà người mua đáng lẽ được hưởng nếu hợp đồng được thực hiện. Cụ thể:
Nếu người mua không vi phạm hợp đồng và đã gia hạn L/C theo yêu cầu từ người bán qua fax vào ngày 30 tháng 3 năm 1999, hàng hóa có thể đã được gửi đi trước ngày 14 tháng 4 năm 1999, và người bán có thể đã nhận được khoản thanh toán trước ngày 30 tháng 4 năm 1999. Do đó, người bán có quyền được người mua bồi thường tổn thất lãi phát sinh do việc chậm trễ của người mua. Cụ thể:
Hàng hóa theo Hợp đồng bán lại đã được vận chuyển vào ngày 6 tháng 6 năm 1999, hợp đồng quy định việc thanh toán phải được thực hiện trong vòng 120 ngày sau ngày giao hàng, vì vậy ngày nhận thanh toán phải là ngày 4 tháng 10 năm 1999. Hàng hóa theo Hợp đồng bán lại II đã được vận chuyển vào ngày 9 tháng 11 năm 1999. Theo thông lệ chung trong giao dịch, người bán sẽ nhận được chuyển khoản vào ngày 24 tháng 11 (15 ngày sau ngày vận đơn). Ngày giữa theo hai hợp đồng là ngày 29 tháng 10 năm 1999, thời gian trì hoãn nhận thanh toán là sáu tháng (từ ngày 30 tháng 4 năm 1999 đến ngày 29 tháng 10). Theo hai hợp đồng bán lại, giá bán lại trung bình là 150,82 USD/tấn; tổng giá bán lại theo hợp đồng của trường hợp này là 1.146.232 đô la Mỹ (150,82 đô la Mỹ/tấn * 7.600). Nếu số tiền gốc để tính lãi là 1.146.232 USD và thời gian tính lãi là sáu tháng và lãi suất là 8% mỗi năm, thì khoản mất lãi của người bán vì sự chậm trễ trong việc bán lại hàng hóa là: 1.146.232 USD x 6 tháng x 8%/12 = 45.849,28 USD.
Khoản lãi đối với số tiền thiệt hại 259,768 đô la Mỹ đã nói trên của người bán: Vì người bán không nhận được số tiền này, người bán có quyền yêu cầu bồi thường cho số tiền lãi đối với khoản thiệt hại này. Tiền lãi này phải được tính từ ngày 1 tháng 5 năm 1999 (nếu người mua không vi phạm hợp đồng, khoản thanh toán này sẽ được nhận trước ngày 30 tháng 4 năm 1999). Lãi suất là 8%. Tiền lãi phải được tính cho đến ngày phán quyết trọng tài được thi hành.
(iii) Người mua phải chịu phí luật sư cho vụ việc là 90.000 Nhân dân tệ.
Người bán đã nhận được khoản thanh toán 80.000 đô la Mỹ từ người mua. Do đó, người mua phải trả khoản bồi thường (không bao gồm tiền lãi của số tiền bị thiệt hại) là 225,617,28 đô la Mỹ (259,768 + 45,849,28 - 80.000) và 90.000 Nhân dân tệ sau khi trừ 80.000 đô la Mỹ.
3.3. Lập luận của Trọng tài
a) Trách nhiệm cho sự chậm trễ trong thanh toán 80.000 đô la Mỹ
Trong vụ việc này Trọng tài đã xem xét việc người mua có lỗi trong việc chậm thanh toán 80.000 đô la Mỹ hay không và liệu người bán có lý do chính đáng để hoãn giao hàng hay không.
Theo quy định của hợp đồng, người mua phải gửi 80.000 đô la Mỹ được tính là 10 đô la Mỹ/tấn vào tài khoản do người bán chỉ định trước ngày 9 tháng 2 năm 1999. Người bán đã thông báo cho người mua về tài khoản ngân hàng của mình vào ngày 6 tháng 2 năm 1999. Nhưng người mua đã không chuyển 80.000 đô la Mỹ vào tài khoản này cho đến ngày 3 tháng 3 (là ngày người bán nhận được khoản tiền chuyển này).
Người bán cho rằng đó là vi phạm hợp đồng của người mua trong khi người mua lập luận rằng việc họ không chuyển đúng thời hạn là vì lý do bất khả kháng là chính sách kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc yêu cầu người mua phải lấy hóa đơn gốc của người bán, nhưng người mua không nhận được hóa đơn gốc từ người bán cho đến ngày 12 tháng 2, và do Lễ hội mùa xuân, ngân hàng của người mua đã không thực hiện giao dịch cho đến ngày 26 tháng 2. Do đó, người mua cho rằng họ không chịu trách nhiệm cho sự chậm trễ này.
Trọng tài đã phán quyết rằng:
- Hợp đồng không quy định rằng người bán phải gửi hóa đơn gốc trước khi nhận khoản thanh toán 80.000 USD;
- Người mua phải biết yêu cầu kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc yêu cầu hóa đơn gốc, nhưng người bán không biết quy định này (và người mua đã không đưa ra bất kỳ bằng chứng nào để chứng minh rằng người bán đã biết về quy định đó).
Do đó, việc chậm chuyển tiền liên quan đến hóa đơn gốc là lỗi của người mua vì người mua không quy định nội dung này trong hợp đồng, nên đó không phải là nghĩa vụ của người bán. Kể cả sự kiện ngày lễ hội mùa xuân, cũng không phải lỗi của người bán. Do đó, vì người mua phải chịu trách nhiệm cho sự chậm trễ trong việc chuyển 80.000 đô la Mỹ, và người mua đã vi phạm hợp đồng.
b) Đối với việc hoãn giao hàng của người bán
Trọng tài đã xem xét đến mối liên quan giữa việc người mua vi phạm hợp đồng liên quan đến việc chậm thanh toán 80.000 đô la Mỹ với việc bên bán chậm giao hàng. Về vấn đề này, người bán tuyên bố rằng họ không có nghĩa vụ gửi hàng trước khi nhận 80.000 USD.
Trọng tài cho rằng theo hợp đồng, người mua sẽ nộp khoản thanh toán được tính là 10 đô la Mỹ mỗi tấn trước ngày 9 tháng 2 năm 1999 và phát hành L/C được tính là 175 đô la Mỹ/tấn vào ngày 11 tháng 2. Thực tế là người mua đã phát hành L/C đúng hạn (ngày 10 tháng 2 năm 1999) với số tiền thanh toán tương đương 95% giá trị hợp đồng và khoản tiền chưa được chuyển tương đương với 5% giá trị hợp đồng. Trong trường hợp này, là một thương gia, người bán có hai lựa chọn:
- Chịu tối đa 5% rủi ro, giao hàng và nộp hóa đơn đúng hạn; hoặc là
- Chọn không chịu bất kỳ rủi ro nào và chỉ giao hàng sau khi nhận đủ 80.000 đô la Mỹ.
Người bán có thể chọn phương án (1), nhưng không có nghĩa vụ hoặc nghĩa vụ phải chọn phương án (1). Người mua đã không trả 80.000 đô la Mỹ đúng hạn và đó là vi phạm hợp đồng. Việc người bán chọn phương án (2) là hợp lý từ lập trường của người bán là có thể chấp nhận được. Người bán được quyền hoãn giao hàng vì sự chậm trễ của người mua đối với việc thanh toán toàn bộ 80.000 USD.
c) Về việc sửa đổi L/C trong mười ngày cuối tháng 2 năm 1999
Người bán đã yêu cầu sửa đổi L/C nhiều lần, đặc biệt là sửa đổi thời gian giao hàng trên L/C. Người mua đã cáo buộc rằng điều này nên được coi là bằng chứng cho thấy người bán đã không chuẩn bị hàng hóa kịp thời và do đó người bán không thể giao hàng kịp thời.
Việc sửa đổi L/C là từ ngày 22 đến 25 tháng 2 năm 1999. Đối với yêu cầu của người bán ngày 22 tháng 2 năm 1999, nội dung sửa đổi chủ yếu phải thực hiện với thông số kỹ thuật và số lượng của hàng hóa ngoại trừ một số từ chính tả và thời gian giao hàng đã được thay đổi từ ngày 5 tháng 3 năm 1999 thành ngày 11 tháng 3 năm 1999. Người mua đã xin ngân hàng phát hành L/C sửa đổi vào ngày 23 tháng 2 về đặc điểm kỹ thuật và số lượng hàng hóa vào ngày 25 tháng 2, nhưng thời gian giao hàng được sửa đổi là ngày 10 tháng 3 năm 1999.
Trọng tài lưu ý rằng trong bán hàng hóa quốc tế, thông thường các bên phải sửa đổi L/C và một bên có thể đưa ra yêu cầu sửa đổi, bên kia có thể (1) từ chối, tức là không đồng ý sửa đổi; (2) các bên đàm phán để sửa đổi, và bên yêu cầu phải chịu phí sửa đổi cũng như thiệt hại phát sinh khác; (3) các bên đồng ý sửa đổi, nhưng bảo lưu quyền yêu cầu bồi thường; hoặc (4) các bên có thể đồng ý sửa đổi vô điều kiện.
Từ ngày 22 đến 25 tháng 2 năm 1999, tất cả bốn ngày, người mua đã đồng ý sửa đổi L/C vô điều kiện. Cần xem xét rằng việc sửa đổi ngân hàng phát hành vào ngày 25 tháng 2 năm 1999 là kết quả của việc xác định cụ thể hơn, số lượng và tỷ lệ trùng khớp của hàng hóa và thời gian giao hàng mà hai bên đã thỏa thuận. Do hai bên sửa đổi L/C vô điều kiện, không cần thiết phải điều tra lý do sửa đổi L/C (Có thể có nhiều lý do, không chắc chắn là việc chuẩn bị hàng hóa).
d) Về sự chậm trễ của bên bán trong việc sắp xếp tàu vận chuyển
Người mua đã cáo buộc rằng vào ngày 26 tháng 2 năm 1999 và ngày 1 tháng 3 năm 1999, người mua đã yêu cầu người bán sắp xếp cho tàu và giao hàng nhiều lần, nhưng người bán đã không chủ động thực hiện. Người mua đã cáo buộc rằng người bán bắt đầu tìm tàu sau khi nhận được 80.000 đô la Mỹ và trì hoãn thời gian vận chuyển, vì vậy người bán phải chịu trách nhiệm pháp lý.
Thư của người bán về tên của con tàu đã được gửi vào ngày 5 tháng 3 năm 1999, tức là, trong vòng hai ngày kể từ khi nhận được 80.000 đô la Mỹ.
Trọng tài cho rằng sự chậm trễ này là chấp nhận được. Toà án lưu ý rằng người mua đã viết rằng họ sẽ fax biên lai chuyển tiền cho người bán “chiều nay” trong thư ngày 26 tháng 2. Nhưng bản fax có thể đến người bán vào ngày 2 tháng 3. Vào ngày này, người mua vẫn chưa gửi fax biên lai chuyển tiền cho người bán. Do vậy, lỗi ở đây thuộc về người mua, vì mặc dù đã trả lời nhưng nó đã không gửi fax biên lai chuyển tiền cho người bán tại thời điểm đó. Do đó, trách nhiệm cho sự chậm trễ về thời gian vận chuyển không nên được đặt ra cho người bán; nguyên nhân là do lỗi của người mua. Trên thực tế, Trọng tài xem xét rằng người bán chỉ nhận được 80.000 đô la Mỹ từ ngân hàng vào tài khoản của mình vào ngày 3 tháng 3 nên thư từ được gửi cho người mua vào ngày 5 tháng 3 là kịp thời và hợp lý.
đ) Về các lý do huỷ hợp đồng của bên mua
Thư từ người bán vào ngày 5 tháng 3 năm 1999, ngoài việc cung cấp tên và trọng tải của tàu cũng yêu cầu thay đổi thời gian giao hàng trước ngày 16 tháng 3 năm 1999. Người bán đã yêu cầu người mua xác nhận điều đó. Người bán đã fax cho người mua và thúc giục người mua tiếp vào ngày 8 tháng 3 và ngày 10 tháng 3, nhưng người mua đã không trả lời bất kỳ thông tin nào. Toà án Trọng tài lưu ý rằng có nội dung sau trong bản fax từ người bán đến người mua vào ngày 10 tháng 3 năm 1999: "... chúng tôi rất ngạc nhiên khi biết tin của bạn hôm nay rằng bạn muốn trì hoãn việc gửi hàng đến một ngày sau đó sẽ được thông báo sau. " Điều này cho thấy rằng đó là người mua, không phải người bán, đã yêu cầu trì hoãn việc giao hàng.
Người mua đã không gửi bất kỳ thư nào cho người bán cho đến ngày 29 tháng 3 và viết rằng: "... bởi vì tỷ lệ trùng khớp của thanh thép do công ty của bạn cung cấp rất khác so với trước đây và dưới 8.000 tấn, bây giờ Công ty chúng tôi đã yêu cầu thay đổi thanh thép ren 7.600 (8.000) tấn sang thanh cuộn 7.600 (8.000) tấn ...". Thật khó để hiểu nội dung này trong thư từ người mua đến người bán vào ngày 29 tháng 3. Theo yêu cầu của đặc điểm kỹ thuật và số lượng của thanh thép theo hợp đồng, hợp đồng quy định rằng "với năm loại có đường kính 12 đến 25 milimet thì số lượng bằng nhau, nếu có thông số kỹ thuật 25 mm thì tối đa là 1.000 tấn". L/C được phát hành phù hợp với nội dung này. Khi người bán yêu cầu sửa đổi L/C vào ngày 22 tháng 2 năm 1999, thông số kỹ thuật của hàng hóa được đưa ra bởi người bán là: 12 milimet - 1.800 tấn, 14 milimet - 1.600 tấn, 16 milimet - 1.800 tấn , 22 milimét - 1.800 tấn, 25 milimét - 1000 tấn, tổng cộng 8.000 tấn. Khi người mua nộp đơn xin ngân hàng phát hành sửa đổi L/C vào ngày 23 tháng 2 năm 1999 và ngân hàng phát hành đã sửa đổi L/C, nội dung là: 12 milimet - 1.700 tấn, 14 mm 1.500 tấn, 16 milimet 1.700 tấn, 22 milimet 1.700 tấn, 25 milimet 1.000 tấn, tổng cộng 7.600 tấn. Không có bất kỳ thay đổi nào cho đến ngày 29 tháng 3 năm 1999. Điều đó có nghĩa là thông số kỹ thuật của thép và số lượng 7.600 tấn là do chính người mua quyết định. Theo đó, việc người mua nói "thông số kỹ thuật của thép khác so với trước và dưới 8.000 tấn” là quan điểm riêng của người mua, mà không thể đổ lỗi cho người bán.
Về nội dung thư của người mua vào ngày 29 tháng 3 năm 1999, về bản chất thể hiện hành vi đơn phương hủy hợp đồng của người mua vì một lý do không tồn tại. Do thép ren và thép cuộn là hai loại thép khác nhau, nếu có thay đổi thì phải làm thành hợp đồng mới thay vì sửa đổi hợp đồng.
e) Về Giấy phép nhập khẩu hàng hóa của người mua
Người mua nói rằng vào ngày 10 tháng 3 năm 1999, họ đã gửi fax cho người bán và nói rằng "Giấy phép nhập khẩu của người mua đối với hàng hóa cụ thể có thể bị vô hiệu vì sự chậm trễ trong việc thuê tàu vận chuyển của người bán... và nếu người bán không thể vận chuyển hàng hóa lên tàu đúng hạn, người mua sẽ chấm dứt hợp đồng". Tuy nhiên, trong các tài liệu được gửi bởi người mua và người bán, không có bằng chứng nào cho thấy người mua đã gửi một bản fax như vậy. Chỉ có một thư từ người bán gửi cho người mua vào ngày 10 tháng 3 có nội dung liên quan đến điều này là: “... thật ngạc nhiên khi chúng tôi nghe tin từ bạn hôm nay rằng bạn muốn trì hoãn việc gửi hàng đến một ngày sau đó để được thông báo". Nhưng từ câu đó, trọng tài không thể tìm thấy thông tin về giấy phép nhập khẩu của người mua và hiệu lực của giấy phép.
Trọng tài lưu ý rằng chứng nhận từ Ủy ban kinh tế Sán Đầu vào ngày 12 tháng 7 năm 2001 đã chứng minh rằng giấy phép nhập khẩu của người mua thực sự đã tồn tại. Sau đó, có một vấn đề liệu Giấy phép nhập khẩu có thể được coi là một hành động của chính phủ miễn cho người mua khỏi trách nhiệm pháp lý hay không. Điều khoản hợp đồng về "bất khả kháng về nguồn lực" là quyền lợi của người bán. Giả sử rằng quy định bất khả kháng theo hợp đồng cũng được áp dụng cho người mua, thì, người mua cần phải: (1) thông báo kịp thời; (2) nộp giấy chứng nhận từ chính phủ hoặc phòng thương mại trong vòng 15 ngày, nếu người mua thực sự đã fax (có thể qua điện thoại) về vấn đề với Giấy phép nhập khẩu vào ngày 10 tháng 3 năm 1999, nhưng người mua không nộp giấy phép từ chính phủ hoặc phòng thương mại trong vòng 15 ngày. Giấy chứng nhận từ ủy ban kinh tế Sán Đầu cho thấy được cấp ngày 12 tháng 7 năm 2001; nó không được gửi bởi người mua trong vòng 15 ngày mà là 825 ngày.
Ngoài ra, trong thư của người mua vào ngày 29 tháng 3, lý do người mua đưa ra để đổi chủng loại hàng hóa là về việc không trùng khớp đặc điểm kỹ thuật và số lượng ít hơn 8.000 tấn, thay vì Giấy phép nhập khẩu vô hiệu. Do đó, Trọng tài kết luận rằng người mua đã đơn phương hủy hợp đồng và vi phạm cơ bản hợp đồng.
Trên cơ sở này, việc tính toán mức thiệt hại được Toà án xác định như sau:
Việc xác định việc bồi thường này phụ thuộc vào việc người mua hay người bán đã vi phạm hợp đồng. Trọng tài đã khẳng định rằng lý do hợp đồng không được thực hiện và người bán không giao hàng là do người mua đã đơn phương chấm dứt hợp đồng và vi phạm hợp đồng về cơ bản. Theo CISG, người mua phải bồi thường cho người bán về tổn thất xảy ra vì điều này. Người bán đã bán lại hàng hóa. Theo CISG, người bán có quyền yêu cầu người mua bồi thường tổn thất.
Tuy nhiên, người mua đã phản đối việc người bán bán lại 4.000 tấn thép vào ngày 20 tháng 5 năm 1999 và 4000 tấn một lần nữa vào ngày 14 tháng 10 không phải là bán lại hàng hóa mà hai bên đã ký kết vì cho rằng các thông số kỹ thuật và số lượng khác với thông số kỹ thuật và số lượng mà hai bên đã ký kết vào ngày 25 tháng 2 năm 1999, và cũng khác với thông số kỹ thuật và số lượng do hai bên quy định vào ngày 30 tháng 3 năm 1999. Người mua cho rằng người bán đã không cung cấp bằng chứng nào về việc hàng hóa mà người bán bán lại là hàng hóa theo hợp đồng các bên đã ký kết.
Phản hồi của người bán là: Hợp đồng quy định rằng “có năm loại có đường kính 12 đến 25 milimet có số lượng bằng nhau, nếu có thông số kỹ thuật 25 milimet, thì số lượng nhiều nhất là 1.000 tấn, số lượng 7.600 tấn (+/- 10%)”. Hàng hóa đáp ứng các thông số này sẽ được coi là hàng hóa theo hợp đồng của hai bên.
Trọng tài lưu ý rằng cáo buộc của người mua ở đây liên quan đến việc “hàng hóa theo hợp đồng” ở đây là gì. Trọng tài cho rằng hợp đồng chỉ quy định phạm vi của đặc điểm kỹ thuật và nguyên tắc tỷ lệ khớp số lượng, không quy định đặc biệt về thông số kỹ thuật và số lượng cụ thể, và đã không quy định cách xác định việc đảm bảo các thông số kỹ thuật cụ thể và số lượng. Do đó, cho dù đó là "hàng hóa hợp đồng" hay không dựa có thể được suy luận trên cơ sở mô tả về hàng hóa theo hợp đồng. Các hàng hóa mà người bán đã bán cũng như cách bán lại của người bán đều phù hợp với mô tả hàng hóa này. Do đó, Toà án kết luận rằng thép được bán lại bởi người bán là hàng hóa theo hợp đồng.
Do đó, theo CISG, người bán có quyền yêu cầu người mua bồi thường cho việc mất chênh lệch giá.
Trọng tài đã xem xét yêu cầu phản tố đầu tiên của bên bán về việc tính toán tổn thất của khoản bồi thường. Toà án cho rằng người bán đã xem xét chênh lệch giá giữa giá CNF của hợp đồng trong trường hợp này và giá CIF của Hợp đồng bán lại đầu tiên; và xem xét khoản khấu trừ 80.000 đô la Mỹ; hơn nữa, mặc dù người bán đã bán lại 4.000 + 4.000 = 8.000 tấn, nhưng mức bồi thường được tính trên 7.600 tấn theo hợp đồng, vì vậy cách tính này là hợp lý.
Trong yêu cầu bồi thường của mình, người bán cũng đã tính lãi do chậm trễ trong việc nhận thanh toán. Trọng tài cho rằng theo CISG, người bán nên bán lại hàng hóa trong một khoảng thời gian hợp lý. Trong thực tế, thời gian bán lại là rất muộn. Mặc dù việc bán lại phụ thuộc vào nhu cầu của loại thép đó trên thị trường nhưng sự chậm trễ khi bán lại không phải do người mua gây ra. Do đó, Trọng tài bác bỏ việc tính lãi và phán quyết rằng người mua sẽ trả khoản bồi thường 179,768 đô la Mỹ.
- Khiếu nại của người mua yêu cầu bên bán trả lãi đối với khoản 80.000 đô la Mỹ và yêu cầu của người bán về việc người mua phải trả tiền lãi cho khoản bồi thường: Trọng tài cho rằng việc trả lãi của bên mua hay bên bán đối với các khoản này phụ thuộc vào bản án của Trọng tài sau này. Nói cách khác, mối quan hệ trả lãi giữa các bên sẽ xảy ra sau khi phán quyết được thực hiện. Do đó, Toà án Trọng tài không phán quyết đối với các yêu cầu này của cả bên mua và bên bán.
- Các yêu cầu còn lại của các bên liên quan đến phí trọng tài và các khoản phí khác liên quan đến việc giải quyết tranh chấp: Trọng tài cho rằng phí trọng tài cho các khiếu nại của người mua sẽ do người mua chịu. Phí trọng tài cho các yêu cầu phản tố của người bán sẽ do người mua chịu 90% và người bán chịu 10%. Phí luật sư và phí đi lại của người mua sẽ do người mua chịu; Phí luật sư của người bán là 90.000 Nhân dân tệ nên được bồi thường bởi người mua.
Phán quyết của Trọng tài
Trọng tài đã phán quyết về vụ việc như sau:
- Bác bỏ tất cả các khiếu nại của người mua;
- Người mua sẽ trả cho người bán 179.768 đô la để bồi thường cho người bán khi mất chênh lệch giá bằng cách bán lại hàng hóa;
- Người mua sẽ trả 90.000 Nhân dân tệ để bồi thường cho phí luật sư mà người bán phải trả cho vụ kiện;
- Phí trọng tài cho các khiếu nại của người mua với số tiền 39.640 Nhân dân tệ sẽ do người mua chịu hoàn toàn. Phí trọng tài phản tố của vụ kiện này là 7.116 đô la Mỹ, trong đó người mua phải chịu 6.404,40 đô la Mỹ và bên bán sẽ chịu 7.116 đô la Mỹ.
- Người mua sẽ thanh toán số tiền trên, tổng cộng là 186.172,40 đô la Mỹ và 90.000 Nhân dân tệ trong vòng ba mươi ngày sau ngày nhận phán quyết này, cộng với lãi suất hàng năm là 4%.
4. Bình luận
4.1. Ý nghĩa và mục đích của các quy định này
Theo bình luận của Ban Thư ký UNCITRAL, Điều 75 quy định trong trường hợp hợp đồng bị huỷ bỏ bởi người mua, người bán được tự do bán lại hàng hoá. Tương tự, nếu hợp đồng bị vi phạm bởi người bán, người mua sẽ có quyền mua hàng hoá tương tự từ người bán khác nếu có thể. Đây là sự tôn trọng lợi ích đương nhiên của các bên. Nếu bên không vi phạm thành công trong việc bán lại hoặc thay thế hàng hoá, việc mất mát sẽ bị giảm bớt. Điều 75 nhận thức được vấn đề này và đưa ra các quy tắc đặc biệt để tính toán thiệt hại trong các trường hợp đó.
Trong khi đó, Điều 76 quy định một phương thức khác để xác định thiệt hại khi hợp đồng bị huỷ bỏ. Phương thức thay thế này, dựa trên nguyên tắc tương tự như quy định tại Điều 75, áp dụng trong các trường hợp hợp đồng bị huỷ bỏ nhưng bên bị thiệt hại không bán lại hàng hóa hoặc, đã không mua bất kỳ hàng hóa nào thay thế một cách hợp lý và trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng bị huỷ bỏ. Lý do cho sự không hành động của bên bị thiệt hại là không liên quan theo Điều 76 (mặc dù chúng có thể có liên quan theo Điều 77). Quy định của Điều 76 xuất phát từ thực tế là, vì việc huỷ bỏ hợp đồng giải phóng cả hai bên khỏi nghĩa vụ của họ, bên bị thiệt hại đã tuyên bố hủy hợp đồng thường sẽ tìm kiếm một giao dịch thay thế. Do đó, người mua thường được dự kiến sẽ mua hàng hóa thay thế hoặc người bán bán lại hàng hóa cho người mua khác. Trong những trường hợp như vậy, biện pháp bồi thường thiệt hại thường được dự kiến là chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá bán lại hoặc mua lại, như được quy định trong Điều 75.
Điều 75 và Điều 76 là các áp dụng cụ thể của Điều 74 và giải quyết lần lượt hai phương thức đo lường thiệt hại trực tiếp của bên bị thiệt hại khi một hợp đồng bị huỷ bỏ. Điều 75 xác lập một phương thức “chắc chắn”khi quy định quyền của người bán hoặc người mua, tùy theo từng trường hợp, yêu cầu bồi thường thiệt hại dựa trên chênh lệch giữa giá hợp đồng với kết quả bán lại hàng hóa sau khi đã trừ đi các chi phí khác nếu có như bảo hiểm. Điều 76 quy định trong trường hợp hàng hoá có giá thị trường, bên bị thiệt hại có thể đo lường thiệt hại của mình một cách trừu tượng tức là giả định rằng một giao dịch đã không được thực hiện liên quan đến hợp đồng bị vi phạm. Có thể có một số nghi ngờ về việc trong thực tế, bên vi phạm sẽ biết rằng bên bị thương đã chọn biện pháp khắc phục cụ thể vì bên bị thương không bắt buộc phải thông báo trước cho cuộc bầu cử của mình. Câu hỏi chứng cứ này có thể chứng minh đặc biệt rắc rối khi bên bị thương thường xuyên tham gia vào việc mua hoặc bán hàng hóa cùng loại và không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa việc mua hoặc bán sau vi phạm của bên bị thiệt hại và hợp đồng đã bị vi phạm. Trên thực tế, một số ý kiến cho rằng bên bị hại có thể sẽ thường chọn phương thức “chắc chắn” khi mà bên bị hại không phải thông báo trước về sự lựa chọn của mình. Điều này còn trở nên phức tạp hơn khi mà bên bị thiệt hại thường tham gia vào việc mua hoặc bán hàng hoá cùng loại và không có một mối liên hệ rõ ràng nào giữa một việc mua hoặc bán sau vi phạm bởi bên bị thiệt hại với hợp đồng vừa bị huỷ bỏ.
Một vấn đề phổ biến đối với cả Điều 75 và Điều 76 là liệu bên bán có quyền được đòi bồi thường hiệt hại nhiều hơn khi mà những thiệt hại được bù đắp bởi các điều này không đủ để giúp người bán nếu so sánh với lợi ích mà họ lẽ ra có được nếu hợp đồng được thực hiện. Công ước đã không giải quyết rõ ràng vấn đề này nhưng cả Điều 75 và Điều 76 đều quy định rõ ràng rằng bên bị thương có thể đòi hỏi đối với “bất kể những thiệt hại nào khác... theo Điều 74” khác với những thiệt hại được đo lường trong các điều sau đó. Nói một cách khác, Điều 75 và 76 chỉ là các ứng dụng cụ thể của các nguyên tắc được ghi trong Điều 74 và rằng bất kỳ vấn đề chưa được giải quyết nào phải được trả lời theo các điều khoản chi phối là Điều 74.
Dựa trên quy tắc về giới hạn thiệt hại cơ bản được xác lập tại Điều 74 rằng các bên khi ký kết hợp đồng sẽ có thể tính toán rủi ro và trách nhiệm pháp lý mà họ phải gánh chịu theo thỏa thuận của họ, nghĩa là là những thiệt hại mà bên vi phạm thấy trước hoặc phải thấy trước tại thời điểm ký kết hợp đồng.
4.2. Các lưu ý chung
Điều 75 và 76 quy định cách tính thiệt hại khi có hành vi hủy hợp đồng. Điều 75 và 76 không thay thế cho Điều 74. Thay vào đó, các điều này cung cấp cho bên bị thiệt hại các phương pháp thay thế có thể sử dụng được để đo lường thiệt hại khi có hành vi hủy hợp đồng. Nói một cách khác, bên bị thiệt hại chỉ ra được thiệt hại theo Điều 75, Điều 76 cũng có thể đòi bồi thường bất kỳ thiệt hại nào khác theo Điều 74.
Khi xác định các thiệt hại được bồi thường theo Điều 75 hoặc 76 không được đặt bên bị thiệt hại ở vị thế tốt hơn so với việc hợp đồng được thực hiện đúng cách.
4.3. Các lưu ý đối với Điều 75
Trong các trường hợp được nêu trong Điều 75, bên bị thiệt hại chỉ có thể thu hồi chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá trong giao dịch thay thế (trừ các thiệt hại có thể thu hồi thêm theo Điều 74). Nói cách khác, người bán có thể thu hồi chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá thu được cho hàng bán lại, với điều kiện giá này thấp hơn giá theo hợp đồng; người mua có thể, thu hồi chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá trả cho hàng hóa thay thế, với điều kiện là giá sau cao hơn giá theo hợp đồng.
Nếu giao dịch thay thế xảy ra ở một nơi khác với giao dịch ban đầu hoặc theo các điều khoản khác nhau, số tiền thiệt hại phải được điều chỉnh để bù cho bất kỳ sự gia tăng nào về chi phí (chẳng hạn như vận chuyển tăng) trừ mọi chi phí nếu có do hậu quả của các vi phạm.
Điều 75 quy định rằng bên bị thiệt hại có thể dựa vào chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá trong giao dịch thay thế chỉ khi việc bán lại hoặc mua hàng thay thế được thực hiện một cách hợp lý. Để giao dịch thay thế được thực hiện một cách hợp lý trong bối cảnh của Điều 75, nó phải được thực hiện theo cách có khả năng mang lại mức giá cao nhất của việc bán lại một cách hợp lý có thể trong điều kiện cụ thể hoặc mua hàng thay thế với giá thấp nhất hợp lý có thể. Do đó, giao dịch thay thế không cần phải có các điều khoản bán hàng giống hệt nhau đối với các vấn đề như số lượng, tín dụng hoặc thời gian giao hàng miễn là giao dịch thực tế thay thế cho giao dịch bị huỷ bỏ.
Khi xác định chênh lệch giá để bồi thường theo Điều 75, các giá được xác định như sau:
- Giá trong hợp đồng là giá xác định trong hợp đồng hoặc giá được xác định theo nguyên tắc suy đoán ngành công nghiệp tương tự tại Điều 55 CISG.
- Giá trong bất kỳ giao dịch thay thế nào đều có thể được sử dụng để tính toán thiệt hại theo Điều 75 với điều kiện bên bị thiệt hại thực hiện giao dịch thay thế một cách hợp lý và trong thời gian hợp lý.
Để xác định quyền bồi thường theo Điều 75, phải chứng minh được mối liên hệ giữa giao dịch thay thế của bên bị thiệt hại với giao dịch của các bên đang tranh chấp. Trường hợp giao dịch thay thế của bên bị thiệt hại là không hợp lý, thiệt hại có thể được tính toán theo Điều 76 hoặc Điều 74.
Cũng cần lưu ý rằng, để làm cơ sở tính toán thiệt hại theo Điều 74, việc bán lại hoặc mua hàng thay thế phải được thực hiện trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng bị huỷ bỏ. Do đó, tính hợp lý của khoảng thời gian để bán lại hoặc mua hàng thay sẽ không bắt đầu cho đến khi bên bị thiệt hại thực tế đã tuyên bố hủy hợp đồng.
Nếu việc bán lại hoặc mua lại không được thực hiện một cách hợp lý hoặc trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng bị huỷ bỏ, thiệt hại sẽ được tính như thể không có giao dịch thay thế nào được thực hiện. Do đó, phương sách sẽ được thực hiện theo Điều 76 và, nếu có thể, đối với Điều 74.
Điều 75 quy định rằng bên bị thiệt hại có thể phải chịu thêm thiệt hại mà sẽ không được bồi thường theo công thức của điều này nhưng có thể được bồi thường theo Điều 74.
Điều 75 chỉ áp dụng nếu người bán thực tế đã bán lại hàng hóa hoặc nếu người mua thực tế đã mua hàng hóa thay thế. Khả năng bán lại hàng hóa hoặc mua hàng hóa thay thế sẽ không chứng minh được việc áp dụng Điều 75. Tuy nhiên, nếu người bán hoặc người mua không tận dụng được cơ hội đó, thì có thể coi đó là một hình thức không thực hiện các biện pháp giảm thiểu mất mát theo quy định của Điều 77.
Cả người bán và người mua đều không có nghĩa vụ chờ đợi khoảng thời gian hợp lý theo Điều 75 để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Họ có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại ngay sau khi chúng xảy ra. Yêu cầu như vậy sẽ được xem xét, tương ứng, theo Điều 74 hoặc Điều 76. Tuy nhiên, nếu người bán bán lại hàng hóa hoặc người mua mua hàng hóa thay thế trong quá trình khởi kiện, thì yêu cầu bồi thường cho những thiệt hại này sẽ được xem xét theo Điều 75, với điều kiện là một khoảng thời gian hợp lý vẫn chưa trôi qua
Một lưu ý quan trọng là Điều 75 không quy định người bán phải có nghĩa vụ thông báo cho người mua về ý định bán lại hàng hoá của mình trừ khi việc bán lại hàng hoá đã được quy định đã được quy định cụ thể trong hợp đồng tại thời điểm bên mua vi phạm.
4.4. Một số lưu ý đối với việc áp dụng Điều 76
Điều 76 cho phép sử dụng một công thức tương tự mặc dù trên thực tế không có bán lại hoặc mua bảo hiểm, hoặc khi việc bán lại hoặc mua hàng thay thế không được thực hiện một cách hợp lý hoặc trong một thời gian hợp lý sau khi hợp đồng bị huỷ bỏ.
Điều 76 cũng được áp dụng trong trường hợp không thể xác định chắc chắn liệu giao dịch thay thế đã được thực hiện hay giao dịch nào là bán lại hay mua hàng hoá thay thế khi hợp đồng bị vi phạm. Nếu người bán có nguồn cung cấp hữu hạn đối với hàng hóa đang được đề cập hoặc người mua có nhu cầu hữu hạn đối với hàng hóa đó, có thể rõ ràng rằng người bán đã bán lại hoặc người mua đã mua hàng hoá thay thế. Tuy nhiên, nếu bên bị thiệt hại liên tục giao dịch trên thị trường đối với "loại hàng đang được đề cập, có thể khó hoặc không thể xác định được hợp đồng mua hoặc bán nào trong số nhiều hợp đồng là giao dịch thay thế cho một bên bị vi phạm. Điều 75 có thể là không khả thi và Điều 76 (1) sẽ được áp dụng với điều kiện là hợp đồng đã được huỷ bỏ.
Thiệt hại theo Điều 76 bao gồm một khoản tiền bằng với chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá hiện tại của hàng hóa được đề cập. Các ý tưởng cơ bản của công thức này là:
Nếu người bán huỷ hợp đồng do vi phạm của người mua và giá thị trường của hàng hoá thấp hơn giá cố định của hợp đồng, thì người bán, khi bán lại hàng hóa, sẽ bị lỗ khi bán lại với giá thấp hơn mức dự kiến hợp pháp theo hợp đồng bị vi phạm: và
Nếu người mua huỷ hợp đồng do vi phạm của người bán và giá thị trường cao hơn giá cố định của hợp đồng, người mua, khi mua hàng thay thế, sẽ bị lỗ do trả giá cao hơn giá anh ta sẽ có nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng.
Điều 76 cũng quy định các tổn thất bổ sung mà bên bị thiệt hại có thể phải chịu và có thể được bồi thường ngay cả khi bên bị thiệt hại không phải chịu bất kỳ tổn thất cơ bản nào theo Điều 76 (1) (nghĩa là khi giá hiện tại có liên quan bằng với hợp đồng giá bán).
Các khoản lỗ bổ sung là tất cả các khoản lỗ, bao gồm tổn thất lợi nhuận mà bên bị thiệt hại phải chịu do hậu quả của việc vi phạm hợp đồng và có thể thấy trước bởi bên vi phạm với điều kiện là họ sẽ không được bồi thường theo công thức của Điều 76 (1). Các thiệt hại khác có thể được bồi thường theo Điều 74 trong trường hợp thoả mãn với điều kiện của quy định này.
Khi tính toán thiệt hại, vấn đề cũng có thể phát sinh theo thời gian. Bởi vì giá hiện tại thay đổi theo thời gian, một vấn đề chính là xác định thời điểm thích hợp để chỉ định giá thị trường hoặc giá thị trường thay thế, nếu một trong số đó được sử dụng để tính toán thiệt hại theo Điều 76. Khi dự thảo Công ước, đã có quan điểm cho rằng thời điểm thích hợp để xác định mức giá thị trường phải là thời điểm mà bên bị thiệt hại trước tiên có quyền tuyên bố hủy hợp đồng nói cách khác, thời điểm hợp đồng có thể bị huỷ bỏ. Tại Hội nghị Vienna, một số đoàn đã phản đối công thức này vì từ ngữ được đề xuất là không đủ rõ ràng và quá linh hoạt dẫn tới trên thực tế khó áp dụng. Qua nhiều đề xuất và sửa đổi câu chữ, công thức đã được thông qua như là quy tắc chung để xác định giá hiện tại là quy định tại Điều 76 sử dụng thời điểm huỷ hợp đồng làm thời gian tham chiếu để xác định giá thị trường (bao gồm giá thị trường của hàng được thay thế).
Tuy nhiên, có một ngoại lệ đối với quy tắc chung nêu trên, khi bên yêu cầu bồi thường thiệt hại đã huỷ hợp đồng sau khi nhận hàng hóa. Trong những trường hợp như vậy, thời gian thích hợp để xác định giá hiện tại sẽ là thời điểm tiếp quản hàng hóa, nghĩa là thời gian trước thời điểm hợp đồng bị huỷ. Lý do đằng sau quy định này là để ngăn chặn sự đầu cơ về biến động giá của bên bị thiệt hại đã huỷ hợp đồng sau khi tiếp quản hàng hóa. Đầu cơ như vậy có thể có hình thức hoãn hợp đồng hoặc tránh hợp đồng cho đến khi dự kiến tăng hoặc giảm giá thị trường của hàng hóa được đề cập.
Bên bị thiệt hại có quyền được bồi thường thiệt hại đối với sự chênh lệch giữa giá xác định bởi hợp đồng và giá hiện tại theo Điều 76. Để các thiệt hại được tính toán theo Điều 76, hợp đồng phải xác định, một cách rõ ràng hoặc ngầm định, một mức giá cho hàng hóa.
Giá thị trường là giá thường được tính cho loại hàng hóa đó khi được bán ở các hoàn cảnh thương mại tương đương.
Thời điểm mà giá thị trường được thiết lập là thời điểm hủy hợp đồng, chính là thời điểm việc hủy đó được tuyên bố, đưa ra; tuy nhiên, trường hợp bên bị thiệt hại hủy hợp đồng sau khi nhận hàng hóa, thì giá hiện tại được xác định tại thời điểm tiếp nhận hàng hóa.
Địa điểm mà giá thị trường được thiết lập là nơi việc giao hàng phải được diễn ra. Trường hợp không có giá hiện tại tại địa điểm diễn ra việc giao hàng, giá hiện tại được thiết lập tại một địa điểm thay thế hợp lý.
Trường hợp hợp đồng không xác định giá hoặc không có giá hiện tại như quy định tại Điều 76, thiệt hại có thể được tính toán theo Điều 74.
*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 52, 55, 74, 75 và 76 CISG.
“Ðiều 52
1. Nếu người bán giao hàng trước thời hạn quy định thì người mua được quyền lựa chọn hoặc chấp nhận hoặc từ chối việc giao hàng đó.
2. Nếu người bán giao một số lượng nhiều hơn số lượng quy định trong hợp đồng, thì người mua có thể chấp nhận hay từ chối việc giao số lượng phụ trội, nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụ trội nói trên thì người mua phải trả tiền hàng phụ trội. Nếu người mua chấp nhận toàn bộ hoặc một phần số lượng phụ trội nói trên thì người mua phải trả tiền hàng phụ trội theo giá hợp đồng quy định.”
“Ðiều 55
Trong những trường hợp, nếu hợp đồng đã được ký kết một cách hợp pháp, nhưng trong hợp đồng không quy định giá cả một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, hoặc không quy định cách xác định giá thì được phép suy đoán rằng, các bên, trừ phi có quy định trái ngược, đã có ngụ ý dựa vào giá đã được ấn định cho loại hàng hóa như vậy khi hàng hóa này được đem bán trong những điều kiện tương tự của ngành buôn bán hữu quan.”
“Ðiều 74
Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết.
“Ðiều 75
Khi hợp đồng bị hủy và nếu bằng một cách hợp lý và trong một thời hạn hợp lý sau khi hủy hợp đồng, người mua đã mua hàng thay thế hay người bán đã bán hàng lại hàng thì bên đòi bồi thường thiệt hại có thể đòi nhận phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thế hay bán lại hàng cũng như mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo Điều 74.”
“Ðiều 76
1. Khi hợp đồng bị hủy và hàng có một giá hiện hành, bên đòi bồi thường thiệt hại có thể, nếu họ đã không mua hàng thay thế hay bán lại hàng chiếu theo Điều 75, đòi nhận phần chênh lệch giữa giá ấn định trong hợp đồng và giá hiện hành lúc hủy hợp đồng, cùng mọi khoản tiền bồi thường thiệt hại khác có thể đòi được chiếu theo Điều 74. Mặc dầu vậy, nếu bên đòi bồi thường thiệt hại đã tuyên bố hủy hợp đồng sau khi đã tiếp nhận hủy hàng hóa, thì giá hiện hành vào lúc tiếp nhận hàng hóa được áp dụng và không phải là giá hiện hành vào lúc hủy hợp đồng.
2. Theo mục đích của điều khoản trên đây, giá hiện hành là giá ở nơi mà việc giao hàng đáng lẽ phải được thực hiện nếu không có giá hiện hành tại nơi đó, là giá hiện hành tại một nơi nào mà người ta có thể tham chiếu một cách hợp lý, có tính đến sự chênh lệch trong chi phí chuyên chở hàng hóa.