Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (máy tự động để sản xuất fax, máy cộng và cuộn nhiệt) giữa Công ty ở Bosnia và Herzegovina với Công ty ở Serbia xét xử tại Tòa thương mại cấp cao Serbia

Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (máy tự động để sản xuất fax, máy cộng và cuộn nhiệt) giữa Công ty ở Bosnia và Herzegovina với Công ty ở Serbia xét xử tại Tòa thương mại cấp cao Serbia

1. Các bên tham gia tranh chấp

- Nguyên đơn là bên mua: công ty ở Bosnia và Herzegovina 

- Bị đơn là bên bán: công ty ở Serbia.

- Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa thương mại cấp cao Serbia.

2. Diễn biến tranh chấp

Theo các sự kiện được xác định trong các thủ tục tố tụng sơ thẩm, các bên đã hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng mua bán có yếu tố quốc tế, mà người mua là một công ty từ Bosnia và Herzegovina. Người bán đã cam kết giao cho người mua máy tự động để sản xuất fax, máy cộng và cuộn nhiệt mẫu "1 + 1" trong khoảng thời gian 30 ngày tính từ ngày 27 tháng 6 năm 2008, với mức giá 7000 EUR. Trên cơ sở đó, người mua đã trả cho người bán tổng số tiền 7000 EUR trong hai đợt, do đó hoàn thành nghĩa vụ của mình vào ngày 19 tháng 8 năm 2008. Người mua đã yêu cầu người bán vào ngày 8 tháng 10 năm 2008 giao hàng càng sớm càng tốt hoặc, thay vào đó, trả lại tiền hàng vì người bán đã chậm giao hàng hơn ba tháng. Người bán không thực hiện yêu cầu này và cho đến ngày nộp đơn kiện, họ không giao máy cho người mua cũng không gửi cho tòa bằng chứng rằng họ đã trả lại tiền cho người mua. Người mua trong yêu cầu bồi thường của mình yêu cầu được hoàn trả số tiền bằng giá của máy mà lẽ ra phải nhận theo hợp đồng, cũng như mức lãi suất theo quy định của Luật Lãi suất đối với khoản tiền đến hạn bắt đầu từ ngày 8 tháng 10 năm 2009, là ngày mà họ đề nghị người bán giao máy hoặc trả lại tiền.

3. Phán quyết của Tòa án

Trên cơ sở các tình tiết được tòa án thu thập và có tính đến việc các bên không chọn luật áp dụng trong hợp đồng của mình, tòa sơ thẩm đã đúng khi kết luận luật áp dụng trong trường hợp này là Công ước Liên hợp quốc về Hợp đồng việc bán hàng hóa quốc tế (CISG) và yêu cầu trả lại tiền của người mua dựa trên cơ sở Điều 53 và 54 của Công ước là kết quả của việc hủy hợp đồng.

Tuy nhiên, Tòa Phúc thẩm cho rằng Tòa sơ thẩm đã sai khi lập luận người mua có quyền hưởng lãi theo Điều 78 của Công ước với số tiền bằng với giá hàng được trả bắt đầu từ ngày 25 tháng 3 năm 2010, là ngày mà người bán nhận được tuyên bố khiếu nại mà người mua đã gửi vào ngày 24 tháng 2 năm 2010 trong đó có ý định rõ ràng của người mua để hủy hợp đồng.

Điều này là do Điều 81 (1) của Công ước quy định rằng việc hủy hợp đồng giải phóng cả hai bên khỏi các nghĩa vụ của họ phụ thuộc vào bất kỳ thiệt hại nào có thể đến hạn. Hủy hợp đồng không ảnh hưởng đến bất kỳ điều khoản nào của hợp đồng để giải quyết tranh chấp hoặc bất kỳ điều khoản nào khác của hợp đồng điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ của các bên là kết quả của việc hủy hợp đồng. Điều 81 (2) của Công ước quy định rằng một bên đã thực hiện toàn bộ hoặc một phần hợp đồng có thể yêu cầu bồi thường từ bên kia về bất cứ điều gì mà bên thứ nhất đã cung cấp hoặc thanh toán theo hợp đồng. Nếu cả hai bên bị ràng buộc để thực hiện bồi thường, họ phải làm như vậy đồng thời. Điều 84 (1) của Công ước quy định rằng nếu người bán bị ràng buộc hoàn trả tiền hàng, anh ta cũng phải trả lãi cho khoản tiền đó, kể từ ngày thanh toán tiền hàng.

Trong trường hợp này, người bán có nghĩa vụ trả lại toàn bộ tiền hàng. Do đó, theo Điều 84 (1) của Công ước, họ cũng có nghĩa vụ trả lãi cho tiền hàng bắt đầu từ ngày thanh toán tiền hàng. Tuy nhiên, vì người mua chỉ yêu cầu hưởng tiền lãi từ ngày 8 tháng 10 năm 2010, Tòa án Thương mại phúc thẩm phải xem xét trong phạm vi yêu cầu này, theo quy định của Điều 3 (1) của Luật Tố tụng dân sự. Do đó, Tòa phúc thẩm đã bác bỏ một phần quyết định sơ thẩm và đồng ý với yêu cầu đòi tiền lãi của bên mua theo lãi suất quy định tại Luật Lãi suất bắt đầu từ ngày 8 tháng 10 năm 2010 đến ngày 24 tháng 3 năm 2010.

*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 53, 54, 81 và 84 CISG.

“Ðiều 53

Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này.”

“Ðiều 54

Nghĩa vụ thanh toán tiền hàng của người mua bao gồm các việc áp dụng các biện pháp tuân thủ các thủ tục mà hợp đồng hoặc luật lệ đòi hỏi để có thể thực hiện được thanh toán tiền hàng.”

“Ðiều 81

1. Việc hủy hợp đồng giải phóng hai bên khỏi những nghĩa vụ của họ, trừ những khoản bồi thường thiệt hại có thể có. Việc hủy hợp đồng không có hiệu lực đối với quy định của hợp đồng liên quan đến việc giải quyết các tranh chấp hay đến các quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên trong trường hợp hợp đồng bị hủy.

2. Bên nào đã thực hiện toàn phần hay một phần hợp đồng có thể đòi bên kia hoàn lại những gì họ đã cung cấp hay đã thanh toán khi thực hiện hợp đồng. Nếu cả hai bên đều bị buộc phải thực hiện việc hoàn lại, thì họ phải làm việc này cùng một lúc.”

“Ðiều 84

1. Nếu người bán bị buộc phải hoàn lại giá tiền, họ cũng phải trả tiền lãi trên tổng số của giá tiền đó kể từ ngày người mua thanh toán.

2. Người mua phải trả cho người bán số tiền tương đương với mọi lợi nhuận mà họ đã được hưởng từ hàng hóa hay một phần hàng hóa:

a. Khi họ phải hoàn lại toàn thể hay một phần hàng hóa, hoặc.

b. Khi họ không thể hoàn lại toàn thể hay một phần hàng hóa không thể hoàn lại hàng trong tình trạng về thực chất giống như tình trạng họ đã nhận và mặc dầu vậy họ đã tuyên bố hợp đồng bị hủy hay đã đòi người bán phải giao hàng thay thế.”