Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (khoai tây) giữa doanh nghiệp Tây Ban Nha với doanh nghiệp Đức xét xử tại Tòa án phúc thẩm khu vực Koln, Đức

Vụ tranh chấp về việc mua bán hàng hóa (khoai tây) giữa doanh nghiệp Tây Ban Nha với doanh nghiệp Đức xét xử tại Tòa án phúc thẩm khu vực Koln, Đức

1. Các bên tranh chấp

Nguyên đơn: Bên bán là tập đoàn xuất khẩu nông sản Tây Ban Nha.

Bị đơn: Bên mua là công ty trách nhiệm hữu hạn Đức.

Cơ quan giải quyết tranh chấp: Tòa án phúc thẩm khu vực Koln, Đức.

2. Diễn biến tranh chấp

Bên bán, là một tập đoàn xuất khẩu nông sản thành lập theo pháp luật Tây Ban Nha, có trụ sở tại Albacete, Tây Ban Nha. Bên mua là một công ty trách nhiệm hữu hạn, thành lập theo pháp luật Đức, cũng hoạt động thương mại nông sản.

Theo đơn đặt hàng của bên mua, bên bán đã giao hơn 100 tấn hàng khoai tây các loại đến Đức vào cuối tháng 5 năm 2003. Hàng hóa được vận chuyển thành năm chuyến bằng xe tải từ Tây Ban Nha đến địa chỉ của công ty A tại Beelen, theo chỉ định của bên mua. Các đợt giao hàng này chưa được thanh toán đầy đủ vì bên mua cho rằng hàng hóa được giao không phù hợp với hợp đồng ở các mức độ khác nhau như, bị dập nát, sai chủng loại và thối rữa. Sau mỗi đợt giao hàng, sau khi kiểm tra chất lượng hàng hóa, bên mua đã thông báo cho bên bán qua điện thoại về sự không phù hợp của hàng hóa. Vì lý do không phù hợp này, các bên đã nhất trí rằng bên mua sẽ cố gắng bán lại số khoai tây này với giá tốt nhất có thể. Theo thỏa thuận này, bên mua đã giảm giá mua hàng tương ứng từ 12% xuống còn 0% đối với một lô hàng được giao, với lý do hoàn toàn không thể bán được, và yêu cầu thêm các chi phí bổ sung liên quan đến hàng hóa không phù hợp và chi phí vận chuyển. 

Tại phiên tòa sơ thẩm, bên bán đã chứng minh và định giá yêu cầu đòi bồi thường với tổng giá trị là 14.740,91 euro. Bên bán đưa ra năm hóa đơn của năm lần giao hàng, đồng thời định giá cả những thiệt hại khác chưa được giải quyết.

Bên bán cho rằng không có bất kỳ sự không phù hợp nào trong các lần giao hàng. Liên quan đến thông báo về sự không phù hợp của bên mua, bên bán cáo buộc rằng những thông báo này được đưa ra quá muộn so với khung thời gian thực hiện thông báo theo Công ước CISG được áp dụng trong hợp đồng này. Bên mua đã đệ trình các tài liệu liên quan đến sự không phù hợp của hàng hóa và dẫn chiếu đến các kết quả thử nghiệm của công ty A (khách hàng của bên mua) cũng như các thông báo bằng lời nói và văn bản về sự không phù hợp.

Tòa án quận đã áp dụng Công ước CISG để giải quyết tranh chấp này, và được sự đồng thuận của các bên. Tòa án quận chấp nhận yêu cầu của bên bán về thanh toán nguyên giá tiền hàng, và cho rằng tất cả các dẫn chứng mà bên mua đưa ra để chứng minh sự không phù hợp của hàng hóa là không đầy đủ.

Bên mua tiếp tục đưa vụ việc lên tòa án phúc thẩm, với cáo buộc rằng, tòa án quận đã không đánh giá đúng các đệ trình của mình, và đã không xem xét các bằng chứng cần thiết. Bên mua yêu cầu tòa phúc thẩm bãi bỏ khiếu kiện của bên bán và sửa phán quyết của tòa sơ thẩm. Đáp lại, bên bán cũng yêu cầu tòa phúc thẩm bãi bỏ khiếu kiện của bên mua. 

Theo yêu cầu của tòa án phúc thẩm, bên bán đã đệ trình tài liệu kế toán mới liên quan đến năm hóa đơn đã được đề cập. Bên bán khẳng định rằng cả năm hóa đơn – khác biệt một phần so với hóa đơn tại phiên tòa sơ thẩm – cho phép bên bán tiếp tục các khiếu nại đòi bồi thường, bị bên mua từ chối vì cho là trái pháp luật. Các hóa đơn mới gửi lên có tổng giá trị tương tự như tại phiên xét xử sơ thẩm. Bên bán cũng nhắc lại lập luận của mình rằng các thông báo về sự không phù hợp đã được đưa ra quá muộn.

Bên mua tiếp tục cho rằng việc giao hàng không phù hợp với hợp đồng giữa các bên. Bên mua cáo buộc rằng hàng hóa được giao theo hóa đơn số 1450 (xe tải: V-15800-R) hoàn toàn không sử dụng được và do đó, bên mua đã không thanh toán cho lô hàng này. Bên mua lập luận rằng thông báo bằng lời nói và văn bản về sự không phù hợp đã được gửi vào ngày giao hàng. Hơn nữa, bên mua còn dựa trên các lập luận phản tố lại khiếu kiện của bên bán về tính chất không phù hợp. Theo tính toán tổng thể của bên mua, bên bán hoàn toàn không được đòi bồi thường gì từ bên mua.

3. Phân tích và Phán quyết của Tòa án phúc thẩm

3.1. Áp dụng Công ước CISG

Vì lý do các bên không quy định việc lựa chọn pháp luật trong hợp đồng, nên tòa án đã lựa chọn luật pháp Tây Ban Nha để giải quyết vụ việc, dựa trên nguyên tắc áp dụng luật pháp tại quốc gia bên bán có trụ sở theo Điều 28 Bộ luật Đức về Tư pháp quốc tế. Trong vụ việc này, bên bán có trụ sở tại Tây Ban Nha. Tuy nhiên, luật pháp Tây Ban Nha lại chỉ được áp dụng cho công ty con của bên bán. Về cơ bản, hợp đồng được ký kết giữa các bên được điều chỉnh bởi Công ước CISG, do cả hai bên đều có địa điểm kinh doanh tại các quốc gia khác nhau, và cả Đức và Tây Ban Nha đều là quốc gia thành viên của Công ước CISG.

3.2. Lập luận của tòa án

Theo các hóa đơn mà bên bán đã cung cấp:

a) Hóa đơn số 1447 (xe tải: OG-52-DV) ngày 29 tháng 5 năm 2003

Hóa đơn này thể hiện việc giao 24.200 kg (kilogram) khoai tây từ ngày 29/5/2003, và đến Đức ngày 2/6/2003 bằng xe tải được nêu ở trên. Yêu cầu bồi thường ban đầu của người bán đối với lô hàng trên là 6.200 euro dựa trên Điều 53 Công ước CISG.

Lập luận giảm giá

Bên mua yêu cầu giảm giá với số tiền 971,72 euro. Hàng hóa trong lô này đã bị phân hủy, hư hỏng và biến dạng, chỉ có thể sử dụng 20.000 kg. 

Bên mua đã đưa ra bằng chứng về sự không phù hợp của hàng hóa thông qua việc đệ trình các kết quả thử nghiệm do khách hàng bên mua cung cấp (Công ty A) ngày 2/6/2003 (tài liệu B1, tờ 14AH) cũng như các lời khai của nhân chứng L. Trong quá trình xét xử phúc thẩm, bên bán phủ nhận cáo buộc không phù hợp của hàng hóa cũng như các kết quả thử nghiệm. Tuy nhiên, bên bán chỉ yêu cầu hoàn trả 5.228 euro đối với đơn hàng số 1241, được thể hiện trong tài liệu kế toán của bên bán (tờ 141GA) và qua lời khai của nhân chứng F. Do đó, rõ ràng ngay cả bên bán đã chấp nhận giảm giá. Mặt khác, nhân chứng L đã cung cấp mô tả chi tiết về các thử nghiệm được thực hiện bởi bên mua. Toàn bộ lô hàng đã được thực hiện một thử nghiệm ngẫu nhiên đối với 25 hoặc 12,5 kg. Thử nghiệm được thực hiện bởi các chuyên gia thuộc các doanh nghiệp chuyên giao khoai tây tại Đức và châu Âu. Các chuyên gia này đã trực tiếp thực hiện thử nghiệm, và đưa ra các tài liệu chứng minh sự không phù hợp của hàng hóa. Các chuyên gia này đã loại trừ các rủi ro về trao đổi, bốc dỡ hàng hóa trong quá trình vận chuyển hàng hóa từ Tây Ban Nha tới Đức.

Thông báo kịp thời về sự không phù hợp

Bên bán đã được thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa trong khoảng thời gian được yêu cầu, nghĩa là bên mua không bị mất quyền yêu cầu giảm giá theo Điều 39 Công ước CISG. Do đó câu hỏi về khoảng thời gian hợp lý cho việc bán hàng dễ hư hỏng không cần phải giải quyết. Tòa án đã xem xét khoảng thời gian 24 giờ đối với hàng hóa dễ hư hỏng theo đề xuất của bên bán, theo đó việc thông báo hàng hóa không phù hợp phải được thực hiện trong khoảng thời gian này (lập luận đưa ra bởi bên bán trong bán ghi nhớ ngày 7/6/2006 và ngày 20/01/2006). Khoảng thời gian (ngắn hơn) theo quy định của RUCIP không được bên bán chấp nhận.

Các bằng chứng thu thập được cho thấy rằng bên mua đã tuân thủ khoảng thời gian thông báo trong vòng 24 giờ. Đại diện bên mua đã thông báo cho bên bán về sự không phù hợp nói chung vào ngày giao hàng - tại công ty A ở Beelen - hoặc muộn nhất vào sáng hôm sau, thông qua điện thoại và fax. Tiếp sau đó, các kết quả thử nghiệm (tài liệu B1 - B5) cũng như các lời khai của nhân chứng L, H và F đều chứng minh cho việc bên mua tuân thủ thời gian thông báo. Thử nghiệm được thực hiện bởi công ty A vào ngày 2/6/2003, là ngày giao hàng (xe tải: OG-52-DV). Cũng theo lời khai của nhân chứng L, hàng hóa đã được đưa đi thử nghiệm ngay khi đến nơi và trước khi hàng được bốc dỡ xuống, cho thấy bằng chứng đầy đủ về ngày giao hàng. Việc bên bán đệ trình các vận đơn (tài liệu K12 và tài liệu liên quan) không chứng minh được gì, vì các vận đơn này chỉ thể hiện ngày bốc xếp và bắt đầu vận chuyển hàng hóa; ngày đến có khả năng sẽ muộn hơn do khoảng cách liên quan và các lệnh cấm xe tải vào ngày cuối tuần.

Các nhân chứng L và H đã lần lượt xác nhận rằng công ty A đã thông báo tất cả về sự không phù hợp của hàng hóa ngay trong ngày giao hàng và ngay sau khi hoàn thành việc thử nghiệm cho nhân chứng H – nhân viên của bên mua. Ngay sau đó, nhân chứng H cũng đã liên lạc với nhân chứng F của công ty Cryka tại Tây Ban Nha, doanh nghiệp đóng vai trò phân phối hàng cho bên mua tại Tây Ban Nha. Sau vài giờ, nhân chứng F thông tin lại cho nhân chứng H kết quả trao đổi với bên giao hàng. Nhân chứng H sau đó sẽ thông tin cho công ty A về việc hàng hóa như thế nào được coi là không phù hợp. Ngay cả trường hợp gửi tài liệu bằng văn bản cũng được thực hiện trong ngày, hoặc một số trường hợp hiếm hoi, được thực hiện vào sáng hôm sau. Nhân chứng H giải thích rằng quy trình tương tự được áp dụng đối với tất cả các đợt giao hàng là đối tượng tranh chấp của vụ việc. Nhân chứng F đưa ra các lời khai bổ sung rằng mình đã chuyển các khiếu nại liên quan đến kết quả thử nghiệm ngay trong ngày giao hàng cho bên bán.

Thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa theo Điều 39 Công ước CISG không yêu cầu thể thức cụ thể và có thể được thể hiện dưới dạng thức một cuộc đàm thoại đơn thuần. Trong vụ việc này, bên mua đã đưa ra thông báo chính xác về sự không phù hợp của hàng hóa trong thời gian 24 giờ.

Mức giảm giá

Mức giảm giá (khoảng 15,52%) chưa được các bên thống nhất.

Theo lời khai của nhân chứng H và nhân chứng F, liên quan đến 5 lần giao hàng tranh chấp, bên bán đã tuyên bố rằng họ chấp nhận bán lại với điều kiện “mức giá tốt nhất có thể”, sau khi thừa nhận sự không phù hợp của hàng hóa. Do đó, bên bán không yêu cầu bất kỳ giới hạn giảm giá nào cả. Nhân chứng F khai rằng bên bán cảm thấy thoải mái với việc “chờ kết quả bán lại hàng hóa, dù kết quả đó thế nào”. Đồng thời, bên bán đã ngừng nhập khoai tây từ những cánh đồng mà khoai tây bị cho là không phù hợp.

Việc bên bán chấp nhận để bên mua bán lại hàng hóa với giá tốt nhất có thể hàm ý bên bán có thể chấp thuận việc giảm giá hàng hóa tương ứng, miễn là quy trình này không xung đột với việc bán lại ở “mức giá tốt nhất có thể”. Khẳng định này đã không được đưa ra và sẽ không phù hợp về thực tế trong trường hợp này. Tỷ lệ giảm giá được áp dụng bởi bên mua hơn là phản ánh việc một phần hàng hóa được giao không sử dụng được do các khiếm khuyết. Do đó, tỷ lệ giảm giá tuân thủ các yêu cầu để áp dụng Điều 50 Công ước CISG.

Chấp nhận bù trừ

Bên mua đã đúng khi yêu cầu trả 5.228,28 euro kết hợp với việc bù trừ đối với một yêu cầu phản tố 1.750 euro. Việc thiết lập bù trừ được chấp nhận theo Điều 533.1 Bộ luật Đức về Thủ tục dân sự và được bên mua chứng minh dựa trên các cáo buộc yêu cầu bồi thường thiệt hại theo Điều 74 Công ước CISG. Bên mua đã lập luận chặt chẽ rằng hàng hóa được giao theo hóa đơn số 1450 hoàn toàn không sử dụng được, và bên mua đã phải chịu chi phí vận chuyển đối với trị giá số hàng nói trên. Lập luận này được hỗ trợ bởi hóa đơn do bên mua đệ trình đối với việc vận chuyển lô hàng này từ Tây Ban Nha đến Beelen trong khoảng thời gian từ ngày 29/5 đến 2/6/2003 (Tờ 156GA).

Do đó, điều kiện tiên quyết cho yêu cầu bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo Điều 74 Công ước CISG đã được thỏa mãn. Nếu không có yêu cầu gì thêm, yêu cầu đòi bồi thường này có thể được đưa ra đồng thời với yêu cầu giảm giá hàng hóa. 

Do đó, yêu cầu giảm giá mua hàng sẽ được tính dựa vào phương pháp bù trừ tiền hàng. Số tiền hàng còn lại sau khi bù trừ là 3.478,28 euro. Bên mua đã thực hiện thanh toán đúng số tiền đó trên hóa đơn, và đã được bên bán công nhận. Như vậy, bên bán không có quyền yêu cầu bồi thường thêm gì từ đợt giao hàng theo hóa đơn số 1447. 

b) Hóa đơn số 1449 (Xe tải: AC-RL-116) ngày 28/5/2003

Hóa đơn này thể hiện việc giao 23.520 kg khoai tây vào ngày 28/5/2003. Giá trị lô hàng mà bên mua tính toán là 5.060,4 euro.  

Lập luận giảm giá

Đáp lại khiếu kiện này của bên bán, bên mua đưa lập luận giảm giá lô hàng này với số tiền 1.042,08 euro. Theo đó, ngoài 19.416 kg khoai tây có thể sử dụng được, chỗ còn lại đều đã hư hỏng, biến dạng. 

Bên mua đã đưa ra đủ bằng chứng cho sự không phù hợp của lô hàng này, thông qua việc đệ trình các kết quả thử nghiệm của khách hàng mình (công ty A) ngày 2/6/2003 (tài liệu B2, tờ số 15AH) kết hợp với lời khai của nhân chứng L. Lập luận tương tự như trường hợp lô hàng tại hóa đơn số 1447 cũng được áp dụng. Lời khai của nhân nhân chứng L cũng đề cập tương tự đến việc giao lô hàng này.

Thông báo kịp thời về sự không phù hợp

Liên quan đến tính kịp thời của thông báo về sự không phù hợp của hàng hóa, lập luận cũng tương tự như trường hợp hóa đơn đầu tiên. Việc giao hàng này đã được thể hiện trong lời khai của các nhân chứng có liên quan. Do đó, sự không phù hợp của hàng hóa đã được thông báo cho bên bán vào ngày giao hàng.

Mức giảm giá

Liên quan đến mức giảm giá đối với lô hàng này (12,3%), tòa đã xem xét thêm các lập luận xung quanh điều kiện “mức giá tốt nhất có thể”. Được sự chấp thuận của bên bán về việc bán lại hàng hóa với mức giá tốt nhất có thể, bên bán đã mặc nhiên đồng ý cho phép bên mua giảm giá mua tương ứng. Tỷ lệ giảm giá được đề xuất bởi bên mua thậm chí còn thấp hơn tỷ lệ hàng hóa 15% bị hỏng, do đó không thể nói tỷ lệ này là không hợp lý. Cuối cùng, chính bản đệ trình của bên bán (tài liệu K17, tờ số 141GA) cũng như lời khai của nhân chứng F đều cho thấy bên bán ban đầu đã lập hóa đơn giao hàng số 1245 với giá trị là 4.927,32 euro. Điều này cho thấy, bên bán đã sẵn sàng chấp nhận việc giảm giá (xem thêm thư giao hàng của nhân chứng F, tờ số 209GA).

Khiếu nại còn lại của bên bán

Khiếu nại còn lại của bên bán liên quan đến khoản thanh toán 4.927,32 euro đã được bên mua trả lại đầy đủ.

Hóa đơn số 1450 (xe tải: V-15800-R) ngày 29/5/2003

Hóa đơn này thể hiện việc giao 22.440 kg khoai tây ngày 29/5/2003. Tổng giá trị ban đầu của lô hàng là 5.331,27 euro, và không có tranh chấp.

Bên mua đã khiếu nại thành công nội dung này bằng việc yêu cầu giảm giá lô hàng về không. Bên mua khẳng định rằng toàn bộ lô hàng này hoàn toàn không thể bán được.

Lập luận giảm giá

Sự không phù hợp của hàng hóa một lần nữa được thể hiện thông qua các kết quả thử nghiệm của công ty A vào ngày 2/6/2003 (tài liệu B3, tờ số 16AH). Lượng hàng hóa không phù hợp được đánh giá ở mức 26,36% tổng khối lượng. Lời khai của các nhân chứng L và F đã xác nhận thêm tính không thể bán được của lô hàng trên. Cả hai nhân chứng đều nhớ rằng lô hàng đã không được khách hàng chấp nhận và trả lại.

Thông báo kịp thời về sự không phù hợp

Yêu cầu giảm giá không bị loại trừ bởi bất kỳ thông báo chậm trễ nào liên quan đến sự không phù hợp. Ở góc độ này, có thể dựa vào lời khai của nhân chứng H và F. Các nhân chứng này xác nhận rằng có một thông báo đã được gửi vào ngày giao hàng.

Mức giảm giá

Bên mua yêu cầu mức giảm giá lô hàng này về không.

Khi bên bán một lần nữa chấp thuận việc bán lô hàng này ở mức giá tốt nhất có thể, điều này đồng nghĩa với việc, bên bán cũng chấp nhận trường hợp xấu nhất, là không thể bán được toàn bộ lô hàng. Lập luận trên cũng bao hàm trường hợp không thể bán lại được lô hàng do tỷ lệ quá mức của hàng hóa bị hỏng. Bên bán đã nhất trí mọi hình thức xử lý đối với lô hàng và chấp thuận mọi kết quả từ việc bán lại lô hàng. Trường hợp không có khách hàng nào sẵn sàng mua lô hàng này – điều này có thể hiểu được do mức độ hư hỏng trên 25% và tính dễ hỏng của lô hàng – thì bên bán cũng phải chấp nhận kết quả này. Bên bán khẳng định đã nhắc lại vào tháng 6/2003 rằng họ sẽ không chấp nhận các yêu cầu giảm giá ở mức độ đó vì lý do không phù hợp của lô hàng. Tuy nhiên, điều này đã không có ý nghĩa do trước đó bên bán đã nhất trí mọi hình thức xử lý đối với lô hàng này.

Do vậy, bên bán không được bồi hoàn tiền đối với lô hàng theo hóa đơn số 1450.

Hóa đơn số 1453 (xe tải: R-5670-BBF) ngày 275/2003

Hóa đơn này liên quan đến việc giao 23.460 kg khoai tây ngày 27/5/2003. Bên bán yêu cầu trả cho lô hàng này số tiền 5.954,20 euro.

Lập luận giảm giá

Bên mua yêu cầu giảm giá 2.046,89 euro. Kết quả thử nghiệm ngày 30/5/2003 (tài liệu B4, tờ 17AH) xác nhận ngoài 15.240 kg khoai tây có thể bán được, số còn lại đều bị phân hủy, hư hỏng và biến dạng do nhiệt.

Liên quan đến tính kịp thời của thông báo về sự không phù hợp, lập luận tương tự như các hóa đơn trước đó cũng được áp dụng. Tỷ lệ giảm giá (khoảng 35%) phản ánh lượng hàng hóa không thể sử dụng. Hơn nữa, bên bán một lần nữa đã chấp nhận để bên mua bán lại ở mức giá tốt nhất có thể. Điều này đã được khẳng định bởi các nhân chứng.

Khiếu nại còn lại của bên bán

Bên mua đã yêu cầu bù trừ 657,3 euro tiền bồi thường thiệt hại vào số tiền 3.907,35 euro sau khi đã giảm giá.

Số tiền bồi thường này tương ứng với mức thiệt hại do vi phạm hợp đồng theo Điều 74 Công ước CISG (hàng hóa không phù hợp). Do vậy, đối với lô hàng theo hóa đơn 1453, bên mua chỉ đồng ý thanh toán 4.072,41 euro. Bên mua còn phải chịu chi phí phân loại hàng hóa là 667,3 euro.

Bên mua cuối cùng đồng ý thanh toán 3.405,11 euro.

3.3. Phán quyết cuối cùng của Tòa án

Tòa phúc thẩm tuyên bố rằng đối với trường hợp hàng hóa dễ hư hỏng, thông báo về sự không phù hợp phải được đưa ra trong vòng 24 giờ theo Điều 39 (1) Công ước CISG. Tòa cũng tuyên bố rằng, nếu các bên đã thống nhất việc bán lại hàng hóa ở mức giá tốt nhất có thể, bên mua có thể giảm giá tương ứng với số tiền tổn thất trong quá trình bán lại theo Điều 50 Công ước CISG. Hơn nữa, theo thỏa thuận với bên mua, bên bán đã mất quyền yêu cầu thành toán nếu hàng hóa được giao hoàn toàn không thể bán lại được. Cuối cùng, do bên mua có quyền giảm giá mua, tòa án cũng thừa nhận bên mua có quyền bù trừ đối với các yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại theo Điều 45(1)(b) và Điều 74 Công ước CISG.

Trên cơ sở đó, theo yêu cầu của bên mua, tòa án phúc thẩm đã bác bỏ phán quyết của Tòa án quận (Landgericht) Koln ngày 17/8/2005. Đơn kiện của bên bán cũng đã bị bác bỏ. 

Bên bán sẽ phải chịu toàn bộ chi phí xét xử phúc thẩm. Phán quyết của tòa phúc thẩm là chung thẩm. 

*Lưu ý: Căn cứ tham khảo dựa trên các Điều 39, 45, 50, 53 và 74 CISG.

Ðiều 39

1. Người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng hóa không phù hợp hợp đồng nếu người mua không thông báo cho người bán những tin tức về việc không phù hợp đó trong một thời hạn hợp lý kể từ lúc người mua đã phát hiện ra sự không phù hợp đó.

2. Trong mọi trường hợp, người mua bị mất quyền khiếu nại về việc hàng không phù hợp với hợp đồng nếu họ không thông báo cho người bán biết về việc đó chậm nhất trong thời hạn 2 năm kể từ ngày hàng hóa đã thực sự được giao cho người mua trừ phi thời hạn này trái ngược với thời hạn bảo hành quy định trong hợp đồng.”

“Ðiều 45

1. Nếu người bán đã không thực hiện một nghĩa vụ nào đó của họ phát sinh từ hợp đồng mua bán hay Công ước này, thì người mua có căn cứ để:

a. Thực hiện những quyền hạn của mình theo quy định tại các điều từ 46 đến 52.

b. Ðòi bồi thường thiệt hại như đã quy định tại các điều từ 74 đến 77.

2. Người mua không mất quyền đòi bồi thường thiệt hại khi họ sử dụng quyền dùng một biện pháp bảo hộ pháp lý khác.

3. Không một thời hạn trì hoãn nào có thể được Tòa án hay Trọng tài ban cho người bán khi người mua sử dụng đến bất kỳ biện pháp bảo hộ pháp lý nào trong trường hợp người bán vi phạm hợp đồng.”

“Ðiều 50

Trong trường hợp hàng hóa không phù hợp với hợp đồng, dù tiền hàng đã được trả hay chưa người mua có thể giảm giá hàng theo tỷ lệ căn cứ vào sự sai biệt giữa giá trị thực của hàng hóa vào lúc giao hàng và giá trị của hàng hóa nếu hàng phù hợp hợp đồng vào lúc giao hàng. Tuy nhiên, nếu người bán loại trừ mọi thiếu sót trong việc thực hiện nghĩa vụ chiếu theo điều 37 hoặc điều 48 hoặc nếu người mua từ chối chấp nhận việc thực hiện của người bán chiếu theo các điều này thì người mua không được giảm giá hàng.”

Ðiều 53

Người mua có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng và nhận hàng theo quy định của hợp đồng và của Công ước này.”

“Ðiều 74

Tiền bồi thường thiệt hại xảy ra do một bên vi phạm hợp đồng là một khoản tiền bao gồm tổn thất và khoản lợi bị bỏ lỡ mà bên kia đã phải chịu do hậu quả của sự vi phạm hợp đồng. Tiền bồi thường thiệt hại này không thể cao hơn tổn thất và số lợi bỏ lỡ mà bên bị vi phạm đã dự liệu hoặc đáng lẽ phải dự liệu được vào lúc ký kết hợp đồng như một hậu quả có thể xảy ra do vi phạm hợp đồng, có tính đến các tình tiết mà họ đã biết hoặc đáng lẽ phải biết.”