Dự thảo Án lệ số 04/2024 về việc tịch thu sung vào ngân sách nhà nước công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội chưa sang tên
DỰ THẢO ÁN LỆ SỐ 04/2024 VỀ VIỆC TỊCH THU SUNG VÀO NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC CÔNG CỤ, PHƯƠNG TIỆN DÙNG VÀO VIỆC PHẠM TỘI CHƯA SANG TÊN
Tình huống án lệ:
Bị cáo mua xe ô tô của người khác theo hình thức hợp đồng ủy quyền nhưng chưa làm thủ tục sang tên theo quy định, người bán xe xác định đã bán xe cho bị cáo và không tranh chấp về quyền sở hữu xe ô tô. Sau đó, bị cáo sử dụng xe ô tô này làm công cụ, phương tiện phạm tội.
Nội dung dự thảo án lệ:
“[10]. Đối với chiếc xe ô tô 60A – 242.93 do các bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội, do chính bị cáo Nguyễn Văn T2 (là chồng của bị cáo Mai Thị H1 điều khiển, có chủ sở hữu chị Phạm Thị Anh Đ (theo giấy đăng ký xe và Phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ của Phòng Công an tỉnh Đ ngày 10/4/2018 chị Đ và anh T3 đã bán xe trên cho ông Lê Thành N hình thức hợp đồng uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định (bút lục 414-416, 459-460, 483- 485). Ngày 20/3/2019, ông N bán xe trên lại cho bị cáo Mai Thị H1 hình thức hợp đồng uỷ quyền, không làm thủ tục sang tên theo quy định (bút lục 412-413, 457-458).
Mặc dù về pháp lý chiếc xe trên vẫn đứng tên chị Phạm Thị Anh Đ nhưng thực tế đã bán cho bị cáo H1 và bị cáo H1 là chủ sở hữu, bởi lẽ căn cứ vào phạm vi ủy quyền của 02 Hợp đồng ủy quyền nêu trên thì bị cáo H1 có đủ 03 quyền của chủ sở hữu gồm chiếm hữu, sử dụng và định đoạt (cầm cố, tặng cho, cho thuê hoặc bán…). Việc này cũng được chị Đ anh T3 và ông N đều xác nhận đã bán, đã nhận tiền đầy đủ, giao xe (Chị Đ và ông N không yêu cầu, thắc mắc gì đối với xe trên, đề nghị Toà án xét xử theo pháp luật).
Từ phân tích trên, đủ cơ sở xác định chiếc xe ô tô 60A – 242.93 là của bị cáo Mai Thị H1. Do đó, cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe ô tô 60A – 242.93 (hiệu KIA loại ô tô con, màu trắng, số máy G4KAEH410974, số khung 51M5FC061659 kèm theo giấy đăng ký xe) do bị cáo T2 và H1 sử dụng làm phương tiện phạm tội là phù hợp, đúng quy định pháp luật.”