Nội dung hủy án 

(i) Về việc xác định tư cách đương sự của cấp sơ thẩm: TAND thị xã C từ khi tiến hành thụ lý, hòa giải, xét xử và tuyên án đều xác định sai tư cách tố tụng của nguyên đơn: Doanh nghiệp tư nhân thương mại và gia công ML do bà Nguyễn Thị Kim L là chủ doanh nghiệp nên theo quy định tại khoản 3 điều 190 Luật Doanh nghiệp năm 2020: “Chủ doanh nghiệp tư nhân là …, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước .. Tòa án” thì bà L tham gia vụ án dân sự với tư cách là nguyên đơn nhưng TAND thị xã C xác định Doanh nghiệp tư nhân thương mại và gia công ML là vi phạm nghiêm trọng quy định khoản 2 điều 68 Bộ luật dân sự năm 2015.

Việc mua bán hàng hóa giữa Doanh nghiệp ML với Công Ty KN đều do bà V và bà H đứng ra đại diện giao dịch nhưng bản án sơ thẩm xác định bà V là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan còn bà H thì không tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan. Đồng thời việc giao nhận hàng được thực hiện giữa ông N2 với ông N1, do vậy cần xác định ông N2 và ông N1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan nhưng tòa sơ thẩm xác định người làm chứng là không đúng.

(ii) Nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận việc mua bán theo tập quán của các thương nhân, đúng theo quy định của luật thương mại nên nếu nguyên đơn cho rằng bị đơn vi phạm nghĩa vụ giao hàng cụ thể là nghĩa vụ giao vật 4.346,5kg thép phi 8 và nguyên đơn đã khởi kiện yêu cầu thực hiện nghĩa vụ giao vật nhưng tại phiên tòa sơ thẩm thay đổi thành yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả lại tiền là vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Hợp đồng mua bán hàng hóa cũng không có thỏa thuận nếu bên bị đơn không giao hàng thì sẽ hoàn trả tiền, điều này đã được phía nguyên đơn thừa nhận tại đơn khởi kiện và lời trình bày trong quá trình giải quyết. Đồng thời, hàng hóa mua bán không phải là vật đặc định nên nếu Tòa án cho rằng bị đơn bị phạm nghĩa vụ giao vật thì cần buộc bị đơn giao vật theo thỏa thuận, việc tuyên buộc bị đơn hoàn trả tiền là vượt quá thỏa thuận của đương sự và vượt quá yêu cầu khởi kiện.

(iii) Nguyên đơn khởi kiện cho rằng việc giao nhận hàng được tiến hành tại DNTN ĐTL, “khi DN ML gửi phiếu bán hàng ngày 08/11/2021 cho công ty KN và cho xe đến kho của DNTN ĐTL nhận hàng như thường lệ thì phía công ty KN cố tình không giao hàng” nhưng tại đơn khởi kiện nguyên đơn cho rằng: “ngày 14/11/2021 công ty Mười lợi cho xe đến địa điểm nhận hàng tại huyện C” là có sự mâu thuẫn”. Theo quy định tại điều 6, điều 91 BLTTDS năm 2015 nguyên đơn khởi kiện thì nguyên đơn phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ và hợp pháp. Tuy nhiên, khi khởi khởi kiện nguyên đơn trình bày như trên nhưng tòa sơ thẩm không yêu cầu cung cấp chứng cứ chứng minh, giải thích sự mâu thuẫn mà ngược lại việc nguyên đơn khai có “đến huyện C nhận hàng” phù hợp với lời khai bị đơn thì tình tiết này được xem là sự thật không phải chứng minh nhưng tòa sơ thẩm vẫn yêu cầu bị đơn chứng minh là vi phạm nghiêm trọng tố tụng về nghĩa vụ chứng minh.

Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn liệt kê ra 8 đơn hàng hai bên đã giao nhận đủ hàng và không tranh chấp, bản án sơ thẩm nhận định có 3 trong 8 đơn hàng trên có chữ ký nhận hàng và cho rằng đơn hàng ngày 08/11/2021 không có chữ ký nhận hàng để lập luận cho rằng bị đơn chưa giao hàng là nhận định thiếu khách quan, không có cơ sở. Trong khi đó, bị đơn có đến 5 trong 8 đơn hàng không có chữ ký nhận hàng nhưng nguyên đơn đều cho rằng đã nhận đủ hàng.

(iv) Về chứng cứ dữ liệu điện tử là thiết bị giám sát hành trình, bị đơn nghi ngờ việc nguyên đơn có tình cung cấp chứng cứ không đúng sự thật nên có yêu cầu tòa án buộc nguyên đơn cung cấp hành trình của xe 54Y-2507 cũng như các xe khác để chứng minh bên nguyên đơn “có cho xe đến C” nhận hàng nhưng tòa án sơ thẩm không yêu cầu nguyên đơn thực hiện, từ đó yêu cầu cơ quan giám định tính nguyên vẹn của chứng cứ mà ngược lại đưa ra lập luận thiếu khách quan cho rằng lời trình bày của bị đơn không có căn cứ. Việc sử dụng tài liệu do Công ty Ánh Dương cung cấp cho rằng dữ liệu điện tử đảm bảo tính nguyên vẹn mà không phải cơ quan giám định là vi phạm nguyên tắc thu thập, đánh giá chứng cứ.

Đơn hàng ngày 08/11/2021 và đơn hàng ngày 15/11/2021 có nội dung giống nhau chứ không phải là một đơn hàng nhưng bản án sơ thẩm nhận định “có đủ cơ sở để xác định số lượng, chủng loại hàng tại phiếu bán hàng ngày 15/11/2021 và số lượng, chủng loại phiếu bán hàng ngày 08/11/2021 là một” là không khách quan. Bởi lẽ đơn hàng ngày 08/11/2021 bị đơn cho rằng đã giao hàng cho nguyên đơn và nguyên đơn cũng thừa nhận có đến C để nhận hàng nhưng bị đơn từ chối giao, nhưng sau đó lại cho rằng tất cả các đơn hàng đều nhận tại Công Ty ĐTL ở ĐX tức có sự mâu thuẫn lớn, chứng cứ là dữ liệu giám sát hành trình nguyên đơn không cung cấp và tòa án không buộc nguyên đơn cung cấp để giám định tính nguyên vẹn của dữ liệu điện tử mà chỉ nhận định nguyên đơn khởi kiện có căn cứ là chưa đảm bảo tính khách quan.

Do việc mua bán giữa công ty KN và doanh nghiệp ML đều thông qua zalo giữa bà H và bà V mà không có hợp đồng ký kết giữa hai bên, do vậy cách thức mua hàng, báo giá và quy trình nhận hàng đều qua thỏa thuận tin nhắn zalo giữa bà H với bà V. Tuy nhiên tin nhắn zalo giữa hai bà có sự mẫu thuẫn và chưa thống nhất về nội dung. Cấp sơ thẩm chưa tiến hành đối chất giữa bà H và bà V để làm rõ nội dung liên quan đến thỏa thuận cách thức mua hàng, báo giá và quy trình nhận hàng quy định thế nào để làm căn cứ giải quyết vụ án là thiếu sót.

Đồng thời, theo quy định tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm là 2.000.000 đồng, tuy nhiên Cấp sơ thẩm thu tiền tạm ứng của người kháng cáo là 300.000 đồng. Do vậy, Cấp sơ thẩm sai sót trong việc thu tiền tạm ứng án phí kinh doanh thương mại phúc thẩm.

(v) Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ và giải quyết vụ án không đầy đủ dẫn đến việc giải quyết vụ án không triệt để, cấp phúc thẩm không thể khắc phục được vì vậy cần hủy bản án sơ thẩm để giải quyết lại nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên kháng cáo của bị đơn Công ty KN được chấp nhận.