Nội dung hủy án:

(i) Bà N kháng cáo cho rằng tại thửa đất 175/2 là do ông Lê V (cha của ông A) tặng cho vợ chồng bà. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông A và bà N được nhà nước công nhận diện tích đất là 288m2 tại thửa 175/2, tờ số 02. Thực tế đo đạc thì diện tích đất tại thửa 175/2 là 591,1m2.

Bà N yêu cầu Tòa án xác minh diện tích đất ngoài Giấy chứng nhận là 303,1m2 để chia vì bà cho rằng diện tích đất này nằm trong khuôn viên nhà và vợ chồng bà đã sử dụng từ năm 2001, sử dụng liên tục và ổn định, đủ điều kiện để được nhà nước cấp Giấy chứng nhận. Tuy nhiên Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành xác minh diện tích đất 303,1m2 so với Giấy chứng nhận là đất thuộc quyền sử dụng của ai, có phải do vợ chồng bà N khai hoang thêm như bà N trình bày hay không và Tòa án cấp sơ thẩm cũng không xác định được diện tích đất 288m2 được cấp theo Giấy chứng nhận nằm vị trí nào trong diện tích đất thực tế 591,1m2 để quyết định giao cho bà N sử dụng. Điều này sẽ khó khăn trong việc cơ quan thi hành án thi hành bản án và cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đấtcho bà N.

(ii) Đối với thửa đất số 524, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì ông A bà N được nhà nước giao sử dụng 255m2, nhưng khi đo đạc thực tế diện tích chỉ có 10230,5m2. Như vậy diện tích đất còn thiếu 24,5m2 so với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ, lẽ ra cần làm rõ diện tích đất thiếu này nguyên nhân do đâu để khi quyết định giao đất cho ông A thì giao theo diện tích đất thực tế sử dụng, như vậy khi bản án có hiệu lực pháp luật thì ông A mới liên hệ với cơ quan có thẩm quyền làm được thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

(iii) Ngoài ra, quyết định của bản án tuyên giao các tài sản gắn liền trên đất nhưng không ghi cụ thể gồm nhà ở và cây cối có trên hai thửa đất nêu trên là thiếu sót, sau này cơ quan thi hành án sẽ không thi hành được bản án.

(iv) Đối với kháng cáo của bà N về khoản nợ của bà Lê Thị B số tiền 470.000.000 đồng và bà Lê Thị Mỹ P số tiền 100.000.000 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy thể hiện tại hồ sơ vụ án, có hai bản chính giấy nợ ghi nợ của nhiều người, trong đó có ghi hai khoản nợ của bà B và bà P do cháu Lê Thị Mỹ D viết và cháu D khai bà N đọc cho cháu viết. Tuy nhiên bà N không thừa nhận việc nhờ cháu D viết và bà N cũng không thừa nhận nhận có nợ tiền của bà B và bà P, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chỉ căn cứ vào lời khai của ông A và cháu D để buộc bà N cùng ông A có nghĩa vụ trả khoản nợ tổng số tiền 570.000.000 đồng cho bà B và bà P là chưa đủ cơ sở.

(v) Về giá trịcủa các tài sản tranh chấp: Đối chiếu với Biên bản định giá và Bản án sơ thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm xác định giá trị tài sản tranh chấp trong bản án có sai sót, không khớp về giá trị tài sản đã định giá, điều này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự.

(vi) Về tính án phí: HĐXX sơ thẩm tính án phí buộc ông A, bà N phải chịu số tiền như quyết định của bản án sơ thẩm về tài sản, về nợ chung là không đúng nên ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự, Tòa án cấp sơ thẩm cần căn cứ vào Điều 26, Điều 27 Nghị quyết 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội để tính án phí cho đúng pháp luật.