Nội dung sửa án 

(i) Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Vĩnh Long, tỉnh Vĩnh Long (nay là Viện kiểm sát khu vực 1) kháng nghị yêu cầu bổ sung thêm mối quan hệ pháp luật tranh chấp là phù hợp nên cần bổ sung thêm quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án: Tranh chấp về ly hôn, chia tài sản chung khi ly hôn và đòi lại tài sản.

(ii) Đối với biên nhận trang sau 1.300.000.000 đồng ngày 25/5 theo kết luận số 415.KJL-KTHS ngày 28/7/2025 của Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ chí Minh kết luận tại vị trí số “2” hàng đơn vị dãy số “2022” trên tài liệu cần giám định ký hiệu A là số “0” được sửa chữa thành số “2”, (số B bị sửa chữa thành số 2022) và không đủ cơ sở kết luận số “2” hàng đơn vị trong dãy số “2022" trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ viết dùng làm mẫu so sách đứng tên Phan Thị H, trên các tài liệu ký tự M1 đến M5 là có phải do cùng một người viết ra hay không; đồng thời biên nhận không ghi nhận tiền của ai, không thỏa thuận lãi suất và thời gian vay, chị H không thừa nhận vay của anh Đ số tiền 1.300.000.000 đồng, biên nhận có chỉnh sửa, bôi xóa, biên nhận do anh Đ cất giữ và giao nộp cho Tòa án có sửa chữa; năm 2020 anh Đ chị H chưa biết nhau, anh Đ và chị H quen biết năm 2022 và đăng ký kết hôn vào năm 2022 nên số tiền nhận vào năm 2020 là không có xảy ra trên thực tế, kháng cáo của chị H là có căn cứ.

(iii) Đối với số tiền vay theo hợp đồng số HDDTD 85320200124 ngày 13/7/2022 anh Đ chị H ký kết vay với Ngân hàng TMCP B1 – chi nhánh V mục đích vay bổ sung vốn lưu động, kinh doanh, mua bán nệm, giường, tủ gỗ.... số tiền vay gốc 3.700.000.000 đồng; anh Đ chị Hòa kết H3 vào ngày 20/6/2022 số nợ vay ngân hàng ngày 13/7/2022 là nợ trong thời kỳ hôn nhân theo quy định của pháp luật, cấp sơ thẩm buộc chị H trả cho anh Đ số tiền gốc 3.700.000.000 đồng và lãi là chưa chính xác, đây là nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân và mục đích vay kinh doanh mua bán nệm, giường, tủ gỗ do anh Đ là chủ cơ sở nên số nợ 3.700.000.000 đồng chị H chỉ chịu trách nhiệm ½ cụ thể: 3.700.000.000 đồng : 2 -1.850.000.000 đồng. Anh Đ chịu 1.850.000.000 đồng là phù hợp theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa anh Đ xác định nguồn tiền trả nợ 3.700.000.000 đồng là do anh Cù Phú (em anh Đ) bán căn nhà cho anh Đ mượn tiền trả nợ ngân hàng; hợp đồng đặt cọc và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa anh Q1 với anh P ngày 19/01/2023 và ngày 02/02/2023. Thê hiện: tại câp sơ thâm anh Q1 và vợ và chị H1 có yêu cầu độc lập yêu cầu anh Đ và chị H trả cho anh Q1 sô tiên 3.700.000.000 đồng mà anh Đ mượn của anh Q1 trả cho Ngân hàng, sau đó rút đơn yêu cầu cấp sơ thẩm đình chỉ; số tiền này anh Q1 cho anh Đ, chị H mượn trong thời kỳ hôn nhân nên anh Q1, chị HI mới có quyền khởi kiện yêu cầu trả nhưng cấp sơ thâm buộc chị H trả cho anh Đ là không đúng đối tượng nên kháng cáo của chị H là có căn cứ. Như nhận định trên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên và chấp nhận một phần kháng cáo của chị Phan Thị H.