Nội dung sửa án 

(i) Về con chung: Ông H và bà Á có con chung là Vũ Thị Như N, sinh ngày 05/4/2002. Vì vợ chồng không thể có con chung về mặt sinh học, nên đã sử dụng thụ tinh nhân tạo tại bệnh viện (IUI) được Bệnh viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh duyệt ngày 10/7/2001. Hồ sơ khám chữa bệnh của bà Á xác nhận phương pháp hỗ trợ sinh sản. Giấy khai sinh của chị N ghi cha là Vũ Văn H, mẹ là Lê Thị Kim Á. Theo khoản 1 Điều 93, Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình, chị N sinh ra bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản trong thời kỳ hôn nhân vẫn là con chung của ông H và bà Á, do đó việc tòa sơ thẩm căn cứ khoản 1 Điều 98 là chưa chính xác.

(ii) Về tài sản chung sơ thẩm đã phân chia. HĐXX Phúc thẩm xét thấy: đối với quyền sử dụng thửa đất số 323+324, tờ bản đồ số 25, diện tích 934,9m2 và tài sản đã xây dựng trên đất tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương: chứng cứ thu thập thể hiện, tài sản này được vợ chồng tạo lập, xây dựng từ sau khi kết hôn cho đến nay, ông H không có cung cấp được chứng cứ xác định có công sức đóng góp nhiều hơn bà Á. Do vậy cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung, có công sức đóng góp ngang nhau là có cơ sở, không chấp nhận kháng cáo của ông H đối với tài sản này. Đối với Thửa đất D11, tờ bản đồ số QHBX-SD 304 tại thôn N, xã T, huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc. Do ông H công tác trong quân ngũ nên mới được cấp đất theo Quyết định số 1994/QĐ-UBND ngày 21/6/2013 của Ủy ban nhân dân huyện B, tỉnh Vĩnh Phúc giao đất và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình là cán bộ, chiến sỹ, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân viên quốc phòng thuộc Quân đoàn B tại thôn N, xã T, huyện B. Vì vậy, cần đánh giá công sức đóng góp của ông H đối với thửa đất D11, tờ bản đồ số QHBX-SD 304 ở Vĩnh Phúc là 60%, của bà Á là 40% mới là phù hợp, đảm bảo sự công bằng.

(iii) Như đã nhận định trên thì tổng giá trị thửa đất số 323+324, tờ bản đồ số 25 tại H, T, T, Hải Dương và các tài sản trên đất là: 3.957.028.000đồng. Ông H và bà Á mỗi người được hưởng 50% giá trị tài sản là: 1.978.514.000 đồng. Tổng giá trị thửa đất D11, tờ bản đồ số QHBX-SD 304 ở Vĩnh Phúc là: 530.000.000đ. Ông được hưởng 530.000.000 đồng x 60% = 318.000.000 đồng. Bà Á được hưởng: 530.000.000 đồng x 40% = 212.000.000 đồng. Đối với 2,5 m2 diện tích đất dôi dư, UBND không đề nghị giải quyết trong vụ án này. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Như vậy tổng giá trị tài sản ông H được chia 2.296.514.000 đồng. Bà Á là 2.190.514.000 đồng. Tổng tài sản bà Á được nhận trên thực tế có giá trị thành tiền là 2.244.135.900 đồng. Tổng tài sản ông H được nhận trên thực tế có giá trị thành tiền là 2.242.871.000 đồng. Vì vậy, bà Á phải trả giá trị chênh lệch cho ông H là 53.621.000 đồng.