Bản án hình sự phúc thẩm số 967/2024/HS-PT ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” đối với các bị cáo Tô Thanh T và Phùng Nhật D do có kháng cáo của các bị cáo Tô Thanh T và Phùng Nhật D
Nội dung hủy án:
(i) Mặc dù khối lượng ma túy bị cáo D bị bắt quả tang khi đang nhận từ nhân viên giao hàng không liên quan đến khối lượng ma túy thu giữ tại căn hộ bị cáo T, cũng như không liên quan đến khối lượng ma túy trong gói “COFEE BREAK”, tuy nhiên cần xem xét làm rõ bị cáo D có tham gia việc mua bán trái phép chất ma túy cùng với bị cáo T và đối tượng tên K hay không? Cần trích xuất camera tại các khu vực liên quan; mở khóa mật khẩu điện thoại của bị cáo D, trích xuất nội dung tin nhắn, nội dung trao đổi giữa bị cáo D và bị cáo T trước và tại thời điểm bị cáo D đến căn hộ của bị cáo T vào ngày 12/5/2022, ngày 13/5/2022 để làm rõ có phải bị cáo D mang theo 02 gói “COFEE BREAK” khi đến căn hộ của bị cáo T hay không; làm rõ bị cáo D có nhắn tin, liên lạc với đối tượng tên K hay không, nếu có thì nội dung trao đổi là gì, bị cáo D có mua ma túy của K (để tự sử dụng, tự bán lẻ) hoặc bị cáo D có bàn bạc, thỏa thuận với bị cáo T và đối tượng tên K về việc nhận, cất giữ ma túy để bán lại cùng với K hay không, bị cáo D có tham gia cùng nhóm, đường dây mua bán trái phép chất ma túy với bị cáo T, K hay không, bị cáo D có ăn chia tiền, ma túy hay lợi ích nào khác với bị cáo T và K hay không?
Từ đó làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo D vào ngày 13/5/2020 là nảy sinh bất chợt khi bị cáo D đang ở căn hộ của bị cáo T chơi thì bị cáo T rủ bị cáo D xuống sảnh chung cư phụ bị cáo T nhận hàng; hay bị cáo D cùng tham gia, có liên quan đến việc mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T và đối tượng tên K?
(ii) Tuy bị cáo D bị bắt quả tang khi đang nhận ma túy có khối lượng lớn nhưng cần làm rõ hành vi phạm tội của bị cáo D là chỉ mang tính nhất thời, bột phát, xảy ra trong một thời gian rất ngắn ngay khi được T nhờ khiêng thùng hàng, không được hứa hẹn hoặc hưởng lợi gì; hay là sự có sự bàn bạc từ trước, có hưởng lợi, có tham gia trong cùng nhóm, đường dây mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo T và đối tượng tên K, để từ đó có căn cứ xem xét mức hình phạt tương xứng đối với hành vi phạm tội của bị cáo D, nhằm bảo đảm tính công bằng, phân hóa trách nhiệm hình sự của các bị cáo trong cùng vụ án.
(iii) Quá trình điều tra, bị cáo T khai đối tượng tên K sử dụng số điện thoại 0906743869. Cơ quan điều tra đã có công văn gửi Công ty D3 đề nghị xác minh thông tin chủ thuê bao nhưng đến thời điểm kết thúc điều tra vẫn chưa nhận được kết quả trả lời.
Hội đồng xét xử xét thấy khối lượng ma túy thu giữ trong vụ là đặc biệt lớn, cần tiếp tục điều tra làm rõ nhân thân của đối tượng tên K để tránh bỏ lọt tội phạm, làm rõ vai trò của bị cáo D liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của K.
Cần làm rõ cách thức K gửi số điện thoại liên lạc của bị cáo T cho đơn vị dịch vụ vận chuyển, nhân viên giao hàng, các thông tin tên, số điện thoại, địa chỉ K sử dụng khi liên hệ với người giao hàng, đơn vị vận chuyển trong các lần bị cáo T nhận hàng giùm K; bị cáo T còn khai K liên lạc với bị cáo T qua ứng dụng Telegram, Z (bị cáo T không nhớ tài khoản của K) nên cũng cần làm rõ tài khoản của K, thông tin tài khoản, trích xuất nội dung tin nhắn giữa K với bị cáo T; xác định thời điểm K đến căn hộ của bị cáo T và trích xuất hình ảnh camera trong khu vực, lấy lời khai để làm rõ lai lịch của K. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T khai T biết vợ của K tên “Chum” và T đã gặp C 02 lần ở quán ăn tại đường S, ngoài ra T quen K qua lần đi chơi với “P”, do đó cần làm rõ nhân thân, lai lịch, lấy lời khai của người tên “Chum”, “P” để làm rõ lai lịch đối tượng tên K.