Bản án hình sự phúc thẩm số 786/2023/HS-PT ngày 29/9/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Ngô Quang T do có kháng cáo của bị cáo Ngô Quang T
Nội dung hủy án:
(i) Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo Ngô Quang T kêu oan cho rằng Ngô Quang T nhận tiền qua tài khoản do Ngô Quang T xin tạm ứng để mua vật tư và cũng có khoản tiền do Công ty M thanh toán tiền lắp ghép mái che, xây nhà tắm, xây nhà làm việc không có trong danh mục xây dựng của 05 hợp đồng xây dựng.
(ii) Trong hồ sơ vụ án thể hiện bản sao kê của ngân hàng xác định có 21 lần do cá nhân Võ Thị Thanh M, Nguyễn Thái L2, Võ Văn Trần Q, Nguyễn Thái L3, Trần Hữu S chuyển tiền vào tài khoản của Ngô Quang T, nhưng không xác xác định nội dung chuyển tiền là do Công ty M chuyển tiền để thanh toán phần việc thi công công trình của 05 hợp đồng gồm: Hợp đồng số 01/12/2017/HĐ-XD ngày 28/12/2017; Hợp đồng số 01/06/2018/HĐ-XD ngày 12/6/2018; Hợp đồng số 01/09/2018/HĐ-XD ngày 17/9/2018; Hợp đồng số 01/10/2018/HĐ-XD ngày 08/10/2018; Hợp đồng số 04/12/2018/HĐ-XD ngày 30/12/2018 đã ký kết.
(iii) Như vậy theo cấp sơ thẩm xác định Ngô Quang T có 21 lần nhận tiền của Công ty M thanh toán phần việc thi công công trình của 5 hợp đồng xây dựng đã ký kết. Nhưng qua đối chiếu 05 hồ sơ quyết toán của Công ty cổ phần T Vũng Tàu thì Ngô Quang T chỉ có nhận 20 lần tiền tạm ứng, trong đó có 10 lần tạm ứng không ghi ngày tháng năm (Hợp đồng số 01/12/2017/HĐ-XD ngày 28/12/2017). Còn lại 10 lần tạm ứng tiền thì chỉ có 02 lần tạm ứng tiền trong hồ sơ quyết toán hợp đồng trùng khớp về ngày và số tiền được chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T; 03 lần tạm ứng tiền trong hồ sơ quyết toán trùng về ngày nhưng không trùng khớp số tiền được chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T và 05 lần tạm ứng tiền trong hồ sơ quyết toán không có trong dánh sách chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T. Do đó cần điều tra làm rõ các khoản tiền được chuyển vào tài khoản của Ngô Quang T có phải là khoản tiền do Ngô Quang T đã được tạm ứng và được dưa vào hồ sơ quyết toán để thanh toán phần việc thi công theo hạng mục công trình của 5 hợp đồng xây dựng đã ký kết giữa công ty cổ phần T Vũng Tàu và Công ty M hay không mới có cơ sở xác định Ngô Quang T nhận tiền từ công ty M thanh toán phần công việc thi công theo 05 hợp đồng xây dựng đã ký kết nhưng không xuất hóa đơn và kê khai thuế giá trị gia tăng gây thiệt hại về tiền thuế.
(iv) Tuy nhiên, qua quá trình điều tra, Cơ quan điều tra xác định lại số tiền do Ngô Quang T đã nhận tiền để thi công trình có sự thay đổi, phát sinh tăng thành số tiền 28.077.192.567 đồng. Nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã có Văn bản số 3933/CSKT ngày 17/12/2020 yêu cầu Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định lại Ngô Quang T giám đốc Công ty cổ phần T Vũng Tàu không thực hiện kê khai thuế số tiền 28.077.192.567 đồng, gây thiệt hại về thuế bao nhiêu?
(v) Theo khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp quy định: “Việc giám định bổ sung được thực hiện trong trường hợp nội dung kết luận giám định chưa rõ, chưa đầy đủ hoặc khi phát sinh vấn đề mới liên quan đến tình tiết của vụ án, vụ việc đã được kết luận giám định trước đó. Việc trưng cầu, yêu cầu giám định bổ sung được thực hiện như giám định lần đầu”. Do có sự thay đổi phát sinh tăng số tiền do Ngô Quang T đã nhận, liên quan đến việc xác định thiệt hại về thuế nên phải thực hiện giám định bổ sung. Tuy nhiên, ngày 30/12//2020 Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu có Văn bản số 11938/CT-TTKT3 xác định giá trị thiệt hại về thuế là không đúng quy định tại khoản 1 Điều 29 Luật Giám định tư pháp.