Bản án hình sự phúc thẩm số 58/2024/HS-PT ngày 28/6/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” đối với bị cáo Nguyễn Cẩm H do có kháng nghị của Viện kiểm sát
Nội dung sửa án:
(i) Xét kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau cho rằng bị cáo Nguyễn Cẩm H không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự; án sơ thẩm xử phạt H 03 năm tù là không đúng tính chất và hậu quả phạm tội; đề nghị xử phạt H điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự. Thấy rằng, quá trình điều tra xác định H chỉ là người cung cấp địa điểm, loa, đèn phục vụ cho việc sử dụng ma túy của T tổng cộng 02 lần ngày 11/5/2023 và ngày 01/6/2023 (ma túy là của T, H không cung cấp ma túy cho T). Vì vậy, việc điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm đối với bị cáo H về tội “Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy” điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự là phù hợp. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bị cáo bị Viện kiểm sát truy tố, và bị cáo khai nhận hành vi bị cáo là sai, nhưng bị cáo không biết T thuê phòng 02 lần để sử dụng ma túy; bị cáo cho rằng chỉ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Điều đó, cho thấy tại cấp sơ thẩm bị cáo H có khai báo, nhưng thái độ chưa thành khẩn. Tuy nhiên, án sơ thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ bị cáo thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51, 54, điểm b khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo 03 năm tù là không đúng (vì bị cáo H chỉ có 1 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên pháp luật không quy định được hạ khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự).
(ii) Án sơ thẩm cũng nhận định: Theo Thông tư liên tịch số: 02/2000/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BTP-BCA Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, Bộ C1 "Hướng dẫn thi hành Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 và Mục 2 Nghị quyết số 32/1999/QH10 ngày 21-12-1999 của Quốc hội", thì Toà án vẫn có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất mà điều luật đã quy định khi có 02 tình tiết giảm nhẹ trở lên mà trong đó chỉ có 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 38 Bộ luật hình sự năm 1985 hoặc khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 (văn bản này đã hết hiệu lực thi hành). Đồng thời, án sơ thẩm cũng nhận định bị cáo có nhiều con nhỏ là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự (Nghị quyết đang Dự thảo), điều này là không có trên thực tế (quy định này đang Dự thảo là tình tiết giảm nhẹ thuộc khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) chưa được thông qua và chưa có hiệu lực thi hành. Ngoài ra, án sơ thẩm cũng nhận định áp dụng chính sách hình sự nhân đạo, nên quyết định hạ khung (áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự). Tuy nhiên, tất cả các nhận định của án sơ thẩm dẫn đến áp dụng tinh thần các văn bản không có giá trị pháp lý nêu trên khi quyết định hình phạt đối với bị cáo là không đúng quy định về quyết định dưới khung hình phạt theo Điều 54 Bộ luật hình sự như đã nhận định tại mục [2].
(iii) Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo khai nhận do cần tiền nuôi con nhỏ, dù biết T thuê phòng để sử dụng ma túy, nhưng bị cáo vẫn thực hiện, nay bị cáo rất ăn năn cho hành vi phạm tội của bị cáo; án sơ thẩm xét xử đối với vị cáo là đúng người đúng tội, không oan; bị cáo chỉ xin xét xử bị cáo với mức án thấp nhất. Do đó, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho toàn xã hội là phù hợp.
Do án sơ thẩm có sai lầm nghiêm trọng khi áp dụng pháp luật; xét Kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau đề nghị sửa án sơ thẩm theo hướng không áp dụng điều 54 Bộ luật hình sự, áp dụng khung hình phạt tại khoản 2 Điều 256 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù là phù hợp, nên chấp nhận.