Bản án hình sự phúc thẩm số 320/2023/HS-PT ngày 12/5/2023 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử về tội “Trốn thuế” đối với các bị cáo Hà Thị Y và Phạm Thị Th do có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của các bị cáo Hà Thị Y và Phạm Thị Th
Nội dung hủy án:
(i) Tuy nhiên, tại các kết luận giám định về thuế ngày 14/12/2020 và ngày 25/5/2021, các giám định viên của Cục thuế tỉnh B mới chỉ thể hiện quan điểm rằng: Trường hợp xác định được Công ty K đã hạch toán khoản chi trả tiền lương, tiền công cho người lao động vào chi phí giá vốn trong kỳ tính thuế nhưng thực tế không có việc chi trả dẫn đến xác định sai số tiền thuế phải nộp thì được coi là hành vi trốn thuế. Để có căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo về tội "Trốn thuế", các kết luận giám định phải xác định rõ các bị cáo có giúp Công ty K trốn thuế không (không có nội dung giả định); trốn loại thuế gì, trốn một lần hay trốn nhiều lần và thời điểm của từng lần trốn; trên cơ sở đó, các cơ quan tiến hành tố tụng mới có cơ sở xác định được số tiền trốn thuế (nếu có), quyết định việc có cộng dồn các lần trốn thuế lại với nhau để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo không.
(ii) Bên cạnh đó, tại phiên tòa phúc thẩm mở ngày 14/3/2023, các bị cáo Hà Thị Y, Phạm Thị Th đã giao nộp các tài liệu bổ sung gồm: Sổ TK 334 (sổ lương); Sổ TK 154.2 (sổ chi phí nhân công, sản xuất kinh doanh dở dang); Sổ TK 632 (sổ giá vốn hàng bán); Báo cáo tài chính năm 2016; Các biên bản của Cục Thuế tỉnh B đã kiểm tra năm 2016; Chứng minh thư (bản phô tô) của những người lao động cung cấp khi đi làm; Bảng phân tích so sánh chi phí nhân công của cơ quan Bộ Quốc phòng; Hóa đơn đầu ra TK 511 của 4 công trình (phô tô). Sau phiên tòa mở ngày 14/3/2023, bị cáo Hà Thị Y tiếp tục giao nộp một số tài liệu: Bản giải trình về số liệu thuế do bị cáo làm ngày 20/3/2023; Văn bản 828/CCTKV-NV ngày 15/6/2022 của Chi Cục thuế khu vực M; Biên bản quyết toán công trình; Bảng kê thuế đầu ra (kê doanh thu 6 công trình). Theo các tài liệu này và trình bày của các bị cáo thì trong số 59 trường hợp Cơ quan điều tra xác định là các bị cáo đã lập chứng từ nhưng không chi trả lương, có 29 trường hợp Công ty đã không hạch toán vào chi phí tính thuế năm 2016, với số tiền là 717.048.000 đồng. Tuy nhiên, đây mới chỉ là các tài liệu do các bị cáo xuất trình, cần được xác minh và có ý kiến chính thức của Cục Thuế tỉnh B để xác định tính hợp pháp của các tài liệu; từ đó, kết hợp các tài liệu này với các tài liệu mà Cơ quan điều tra đã thu thập được, trưng cầu ý kiến của cơ quan chuyên môn để xác định có hay không có việc trốn thuế, số tiền trốn thuế (nếu có), thời điểm trốn, trốn một lần hay nhiều lần. Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Nguyễn Vy K1 là Giám định viên tư pháp đã tham gia việc giám định về thuế theo quyết định trưng cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Kạn trình bày, những tài liệu mà các bị cáo mới giao nộp hông có trình tài liệu giám định nên ông không thể khẳng định các tài liệu này có hợp pháp hay không và có được sử dụng để giảm trừ vào số tiền mà cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bắc Kạn đã xác định Công ty K trốn thuế hay không. Như vậy, để bảo đảm việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Hà Thị Y và Phạm Thị Th là có căn cứ, khách quan, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy cần hủy bản án sơ thẩm để điều tra bổ sung, làm rõ các vấn đề nêu trên.
(iii) Về xác định người tham gia tố tụng, tại Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đề nghị bổ sung Cục thuế tỉnh B tham gia tố tụng với tư cách bị hại; sửa đổi tư cách tham gia tố tụng của 59 cá nhân không làm việc cho Công ty cổ phần K nhưng bị sử dụng tên tuổi để kê khai có hưởng lương là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (không phải là người làm chứng); bị cáo Hà Thị Y kháng cáo cho rằng việc xác định tư cách của những người tham gia tố tụng chưa bảo đảm theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Về vấn đề ngày, Hội đông xét xử phúc thẩm xét thấy khoản thuế mà Công ty K phải truy nộp không phải thiệt hại của Cục thuế tỉnh B mà là nghĩa vụ của Công ty K phải thực hiện với Ngân sách Nhà nước. Cục thuế tỉnh B là đơn vị trực tiếp quản lý, thu thuế của Cộng ty K, có trách nhiệm trong việc thu hồi khoản tiền này. Vì vậy, khi giải quyết lại vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm cần đưa Cục thuế tỉnh B vào tham gia tố tụng; tuy nhiên, xác định Cục thuế tỉnh B là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
(iv) Bên cạnh đó, Công ty K là Công ty cổ phần, có 3 cổ đông sáng lập, hiện vẫn đang hoạt động; khoản tiền trốn thuế được các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm xác định là khoản thuế thu nhập doanh nghiệp của Công ty K. Việc Tòa án cấp sơ thẩm không đưa Công ty K tham gia tố tụng để buộc Công ty K phải nộp khoản thuế này là sai sót. Khi giải quyết lại vụ án, cần đưa Công ty K vào tham gia tố tụng và buộc Công ty K phải truy nộp khoản tiền trốn thuế (nếu có).