Bản án hình sự phúc thẩm số 319/2024/HS-PT ngày 17/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử về tội “Trốn thuế” đối với bị cáo Lê Thanh V do có kháng nghị của Viện kiểm sát, kháng cáo của bị cáo Lê Thanh V và bị đơn dân sự
Nội dung hủy án:
(i) Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số: 436/KLĐT-KT ngày 18/8/2022 của Cơ quan Cảnh sát điều tra -Công an thành phố B, Cáo trạng số: 209/CT-VKSBH ngày 12/4/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa và Bản án hình sự sơ thẩm số: 601/2023/HS-ST ngày 08-11-2023 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tất cả đều căn cứ vào Bản kết luận giám định tư pháp số: 3545/KL-CT ngày 27/5/2019 của Cục Thuế tỉnh Đ; tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có kết luận này.
(ii) Các tài liệu liên quan đến pháp nhân Công ty Đ (giấy chứng nhận đăng ký, điều lệ), cấp sơ thẩm có thu thập nhưng chưa đầy đủ (thiếu các trang quan trọng trong điều lệ). Tòa án cấp phúc thẩm đã yêu cầu doanh nghiệp cung cấp theo Văn bản số: 800/TA-HSPT ngày 24/5/2024, nhưng không thu thập được.
(iii) Tại Công văn số: 20065/CCTKV-KTNB ngày 16/9/2022 của Chi cục Thuế khu vực B (bút lục số 384), thể hiện có 02 giấy nộp tiền của Công ty Đ vào ngân sách Nhà nước; tuy nhiên, hồ sơ không có 02 tài liệu này.
(iv) Tại Công văn số: 20065/CCTKV-KTNB ngày 16/9/2022 của Chi cục Thuế khu vực B (bút lục số 384 nêu trên), thể hiện số tiền thuế phát sinh sau khi điều chỉnh Công ty Đ đã nộp đầy đủ vào ngân sách Nhà nước vào các ngày 27/11/2019 và 29/11/2019, số tiền là 237.057.730 đồng; tuy nhiên, không có các tài liệu nộp tiền kèm theo, chưa được điều tra làm rõ nhưng kết luận điều tra, cáo trạng và bản án sơ thẩm đều yêu cầu Công ty Đ phải nộp lại số tiền này là chưa có căn cứ.
(v) Cấp sơ thẩm không đưa vào tham gia tố tụng đối với các đơn vị chủ đầu tư ký kết hợp đồng với Công ty Đ hoặc có liên quan đến công trình mà cấp sơ thẩm xác định Công ty Đ trốn thuế là không phù hợp.
(vi) Bản án sơ thẩm tuyên bị đơn dân sự nộp tiền nhưng không buộc nộp án phí, không tuyên trách nhiệm khi chậm nộp, làm thất thu ngân sách Nhà nước và vi phạm điểm c khoản 1 Điều 23, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
(vii) Bản án sơ thẩm tuyên xử phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo Lê Thanh V, nhưng Hội đồng xét xử lại ban hành Quyết định cấm đi khỏi nơi cư trú số: 1205/2023/QĐCĐKNCT ngày 08-11-2023, thể hiện: “kể từ ngày tuyên án cho đến thời điểm bị cáo đi chấp hành án phạt tù” là sai, vi phạm khoản 4 Điều 123, điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự.