Nội dung sửa án 

(i) Tuy nhiên, sau khi biết có hành vi trốn thuế, vợ chồng bị cáo M, T đã tự nguyện nộp lại số tiền thuế đã trốn là 120.000.000 đồng. Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 BLHS. Ngoài ra, khách thể của tội danh này thuộc lĩnh vực kinh tế nên áp dụng phạt tiền là hình phạt chính đối với bị cáo là phù hợp. Vì vậy, HĐXX có căn cứ để chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Bạch T, sửa Bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.

(ii) Mặc khác, để thực hiện hành vi trốn thuế, cả ba bị cáo đều thống nhất, tự nguyện ký hợp đồng chuyển nhượng ghi giá 6.500.000.000 đồng. Vợ chồng bị cáo M, T có nghĩa vụ chịu thuế thu nhập cá nhân nhưng bị cáo L là người trực tiếp chịu trách nhiệm di kê khai thuế với cơ quan nhà nước, nộp thay tiền thuế thu nhập cá nhân của bị cáo M, T. Như vậy, cả ba bị cáo đều là đồng phạm trong vụ án, vai trò của ba bị cáo là ngang nhau nên Bản án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo M 150.000.000 đồng và bị cáo L 120.000.000 đồng là chưa phù hợp tính chất, vai trò của các bị cáo trong vụ án. Vì vậy, mặc dù, bị cáo M không yêu cầu kháng cáo nhưng HĐXX phúc thầm xét thấy cần thiết phải điều chỉnh mức hình phạt đối với bị cáo M và không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên điều chỉnh giảm mức phạt tiền từ 150.000.000 đồng xuống 120.000.000 đồng theo quy định tại Điều 345 BLTTHS.