Bản án hình sự phúc thẩm số 213/2022/HS-PT ngày 20/4/2022 của Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” đối với bị cáo Phạm Quang B do có kháng cáo của bị cáo và kháng cáo của người bị hại
Nội dung hủy án:
(i) Qua xem xét các giấy tờ, tài liệu bị cáo B vay tiền của bà T được hai bên xem xét để chốt nợ đều có quy định thời hạn vay nhưng không ghi mục đích của việc vay tiền. Hơn nữa, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Quang B và bà Nguyễn Thị T đều xác định, việc lập 02 giấy vay tiền và cam kết đề ngày 10/11/2018 và ngày 15/12/2018 để chốt số nợ như trên là sự tự nguyện của 02 bên. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ được thủ đoạn gian dối của bị cáo B trong việc lập 02 giấy vay tiền và cam kết đề ngày 10/11/2018 và ngày 15/12/2018 với các nội dung nêu trên.
Qua đó nhận thấy, cấp sơ thẩm quy kết bị cáo Phạm Quang B lừa đảo chiếm đoạt tài sản của bị hại bằng thủ đoạn gian dối như trên là chưa đủ cơ sở vững chắc.
(ii) Về vần đề này, Hội đồng xét xử nhận thấy, mặc dù cả bà T và bị cáo B đều không trình bày chính xác số tiền gốc và tiền lãi, nhưng đây là vấn đề khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh theo quy định tại Điều 85 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo B chiếm đoạt của bà T 103 tỷ đồng là không có căn cứ; cấp sơ thẩm chưa làm rõ được số tiền gốc và số tiền lãi trong tổng số tiền 103 tỷ đồng này là thuộc trường hợp điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
(iii) Thêm nữa, qua xét xử tại phiên tòa phúc thẩm nhận thấy, bị cáo B và bà T đã lập giấy chốt nợ cả gốc và lãi vào các ngày 10/11/2018 và ngày 15/12/2018. Tuy nhiên, theo Bảng sao kê tài khoản của bà Nguyễn Thị T tại ngân hàng Maritime thì trong thời gian này bị cáo B vẫn nhiều lần chuyển tiền cho bà T. Hơn nữa, từ ngày 15/12/2018 đến 28/12/2018 bị cáo B có chuyển vào tài khoản của bà T 03 lần: Ngày 21/12/2018 chuyển 02 lần, lần đầu 5,530 tỷ đồng, lần sau 100 triệu đồng và ngày 25/12/2018 chuyển 600 triệu đồng. Song, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử theo trình tự sơ thẩm, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không làm rõ số tiền này là tiền gì nên cũng thuộc trường hợp cấp sơ thẩm điều tra không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được.
(iv) Cáo trạng truy tố bị cáo B có nội dung ghi rõ “Qua thống kê các giao dịch tại Ngân hàng Sacombank, tổng cộng Huỳnh Lâm H, Phan Trọng H2 đã chuyển cho B tổng số tiền 191,882 tỷ đồng và B đã chuyển trả lại tiền cho 02 bị hại trên số tiền 176,005 tỷ đồng. Như vậy số tiền B chiếm đoạt của Huỳnh Lâm H, Phan Trọng H2 là 15,877 tỷ đồng”. Tuy nhiên, trong quá trình xét xử, Tòa án cấp sơ thẩm chỉ xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Huỳnh Lâm H là bị hại còn đối với ông Phan Trọng H2 thì Tòa án cấp sơ thẩm lại xác định là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, Tòa án cấp sơ thẩm kết luận bị cáo B chiếm đoạt của ông H số tiền 15,877 tỷ đồng; còn đối với ông Phan Trọng H2, Tòa án cấp sơ thẩm nhận định “Do không có quyền lợi nghĩa vụ gì liên quan trong vụ án nên không xem xét”, là mâu thuẫn với nội dung Cáo trạng, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong việc xác định tư cách tham gia tố tụng của ông Hiếu.
(v) Thêm nữa, Tòa án cấp sơ thẩm còn giải quyết cả quan hệ dân sự và buộc bị cáo B phải bồi thường về trách nhiệm dân sự không thuộc phạm vi truy tố của bản Cáo trạng như: Buộc bị cáo B bồi thường cho ông Phí Nhật H3 số tiền 14,5 tỷ đồng với nhận định: “Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án anh Phí Nhật H3 có đầu tư góp vốn cho bị cáo là 14,5 tỷ đồng. Tại phiên tòa bị cáo và anh Hoàng xác nhận số tiền trên bị cáo chưa hoàn trả cho anh Hoàng; hiện anh Hoàng có yêu cầu bị cáo trả số tiền trên, bị cáo đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận buộc bị cáo phải bồi thường”, là vi phạm nghiêm trọng Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
(vi) Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo B còn cho rằng, quyết định về xử lý vật chứng của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng với Luật hôn nhân và gia đình, cùng các vấn đề khác, như: Số tiền 05 tỷ đồng bị cáo chuyển cho bị hại Huỳnh Lâm H nhưng trong thống kê Cơ quan điều tra chỉ ghi 500 triệu đồng; ông Phan Trọng H2 có nhận tiền từ bị cáo 03 lần nhưng Cơ quan điều tra chỉ thống kê 01 lần vào ngày 22/8/2018 số tiền 1,8 tỷ đồng, còn 01 lần ngày 18/10/2018 số tiền 3,150 tỷ đồng và 01 lần số tiền 1,280 tỷ đồng thì không được thống kê; quá trình làm ăn, bị cáo có chuyển tiền qua tài khoản của ông H tại VPBank, bị cáo có yêu cầu sao kê tài khoản VPBank của ông H để đối chiếu nhưng Cơ quan điều tra không thực hiện; bị cáo yêu cầu được đối chất với ông Nguyễn Hoàng L1 để xác định rõ số tiền của ông L1; đối với các bị hại khác như ông Trần Hoàng H1, ông Nguyễn Hồng P thì bị cáo không tiếp cận, mà là họ thỏa thuận với bị cáo cho vay lấy lãi chứ bị cáo không đưa ra thông tin gian dối đối với những người này mà do họ có tiền nên cho bị cáo vay.
Đồng thời, tại phiên tòa phúc thẩm, bà Nguyễn Thị T và Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà T còn cho rằng, các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm chưa làm rõ vai trò của bà L trong vụ án; chưa thu thập chứng cứ xác định số tiền bị cáo chiếm đoạt của bà T đi đâu về đâu, sử dụng vào mục đích gì và ai là người sử dụng để xem có đồng phạm với bị cáo hay không?