Nội dung sửa án 

(i) Tuy nhiên, xem xét về hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xử phạt đối với bị cáo Phạm Văn C, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu với 01 tình tiết định khung quy định tại khoản 2 Điều 256 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; gia đình bị cáo có nhiều người có công với nước. Bản thân bị cáo trong thời gian tại ngoại còn giúp cơ quan Công an phát hiện tội phạm ma túy nhưng xử phạt bị cáo 12 năm tù là quá nghiêm khắc so với tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân của bị cáo. Do đó, cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo, giảm cho bị cáo một phần hình phạt để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước mà tích cự cải tạo.

(ii) Trong vụ án còn có bị cáo Trần Ngọc N không có kháng cáo, không bị kháng cáo, không bị kháng nghị nhưng đánh giá tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo N với mức án mà Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: So với bị cáo Nguyễn Thị Kim L1 – người cũng bị kết án trong vụ án này, N cũng tham gia với vai trò đồng phạm như L1 và đều không giữ vai trò chủ mưu. L1 và N bị kết án với hai tội danh khác nhau nhưng mức hình phạt của hai khung hình phạt áp dụng đối với L1 và N là như nhau (đều từ 07 năm tù đến 15 năm tù), số tình tiết giảm nhẹ mà L1 và N được hưởng là bằng nhau và cả hai đều có nhân thân tốt; phạm tội lần đầu nhưng xử phạt L1 09 năm tù, xử phạt N 11 năm tù cũng là đánh giá không chính xác về tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân đối với N. Vì vậy, cấp phúc thẩm giảm hình phạt của N bằng với bị cáo L1 nhằm đảm bảo tính công bằng trong đường lối xử lý người phạm tội.