Đề xuất Án lệ về giá trị pháp lý của thỏa thuận không cạnh tranh giữa người lao động và người sử dụng lao động
ĐỀ XUẤT ÁN LỆ VỀ GIÁ TRỊ PHÁP LÝ CỦA THỎA THUẬN KHÔNG CẠNH TRANH GIỮA NGƯỜI LAO ĐỘNG VÀ NGƯỜI SỬ DỤNG LAO ĐỘNG
Tình huống pháp lý:
Thỏa thuận không cạnh tranh trong quan hệ lao động là sự cam kết của người lao động về việc không làm việc cho đối thủ cạnh tranh hoặc tự kinh doanh ngành nghề cạnh tranh với người sử dụng lao động sau khi chấm dứt hợp đồng lao động để bảo vệ các bí mật kinh doanh của doanh nghiệp đó. Hiện nay, thuật ngữ “thỏa thuận không cạnh tranh” vẫn chưa được nhắc đến trong các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam. Chính vì vậy, vấn đề hiệu lực của thỏa thuận không cạnh tranh trong quan hệ lao động vẫn còn là chủ đề đang gây tranh cãi.
Thực tiễn xét xử về tranh chấp lao động liên quan đến thỏa thuận không cạnh tranh, các Tòa án vẫn chưa có sự thống nhất trong việc giải quyết vụ án. Các Tòa án vẫn đang có 02 phương hướng xét xử vụ án trái chiều nhau như sau:
Quan điểm 1: Không công nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận không cạnh tranh do không phù hợp quy định của Hiến pháp và pháp luật.
Quan điểm 2: Công nhận giá trị pháp lý của thỏa thuận không cạnh tranh.
Nội dung đề xuất án lệ:
“[6] … bà T cho rằng NDA vi phạm quy định về quyền làm việc của người lao động, vi phạm các hành vi bị nghiêm cấm theo Luật Việc làm năm 2013 mà
Hội đồng trọng tài vẫn công nhận NDA là Hội đồng trọng tài đã vi phạm nguyên tắc tuân thủ pháp luật của người lao động cũng như điều cấm tại Luật Việc làm năm 2013. Xét thấy tại Điều 4 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Quyền tự do cam kết, thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Trong quan hệ dân sự, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được áp đặt, cấm đoán, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Cam kết, thỏa thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Trong trường hợp này, giữa bà T với Công ty R đã tự nguyện ký kết, khi ký bà T là người có đầy đủ năng lực hành vi theo quy định của pháp luật, không bị ép buộc, lừa dối hay áp đặt ý chí để bà T phải chấp nhận ký NDA. Do đó, NDA có hiệu lực. Việc Hội đồng trọng tài công nhận hiệu lực của NDA là hoàn toàn đúng pháp luật.”